Chương 1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Chương 2. Thực tiễn thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.
Khái niệm và nội dung của chính sách ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng 1. Các khái niệm cơ bản 1. Người có công với cách mạng Người có công là người dân bình thường, làm những việc có ích cho xã hội, cộng đồng, có công lao đóng góp cho đất nước. Mặc dù Pháp lệnh số 36- PL/CTN ngày 29/08/1994 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng, được thực hiện từ ngày 01/01/1995, nhưng cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào nêu cụ thể khái niệm người có công với cách mạng.
Có thể khái quát người có công với cách mạng theo các ý nghĩa như sau: Theo nghĩa rộng, người có công với cách mạng là người đã tự nguyện cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng, chiến đấu giành độc lập tự do cho dân tộc, cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là những người đã có những đóng góp, cống hiến cho lợi ích của đất nước, của dân tộc, được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật và đảm bảo cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, chính trị, xã hội. Theo nghĩa hẹp, người có công với cách mạng là những cá nhân có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến của dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Như vậy, khái niệm người có công với cách mạng có thể được hiểu là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác 10 có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật.
Tiêu chí cơ bản để xác định người có công với cách mạng là phải có đóng góp, cống hiến cho lợi ích của dân tộc trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay. Từ hệ thống văn bản pháp luật như Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 1994, Pháp lệnh năm 2005, Pháp lệnh năm 2012 và gần đây nhất là Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ta có thể hiểu rõ hơn về khái niệm người có công với cách mạng theo các nhóm đối tượng là: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945: là người hoạt động cách mạng được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận khi có một trong các điều kiện, tiêu chuẩn: (1) Đã tham gia một tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; (2) Được kết nạp hoặc kết nạp lại vào Đảng Cộng sản Đông Dương trước ngày 19/8/1945. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945: là người hoạt động cách mạng được cơ quan có thẩm quyền xem xét công khi có một trong các điều kiện, tiêu chuẩn: (1) Đã tham gia tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc tương đương trở lên trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa phương và sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến; (2) Đã hoạt động ở cơ sở trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa phương sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến và khi hoạt động ở cơ sở trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa của địa phương là Bí thư, Chủ tịch, Chủ 11 nhiệm Việt Minh, Bí thư Nông dân cứu quốc, Bí thư Thanh niên cứu quốc, Bí thư Phụ nữ cứu quốc cấp xã hoặc tương đương; đội trưởng, tổ trưởng, nhóm trưởng của đội, tổ, nhóm Tự vệ chiến đấu, Tuyên truyền giải phóng, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thiếu nhi cứu quốc ở địa phương chưa hình thành tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã; người được kết nạp vào tổ chức Việt Minh sau đó được giao nhiệm vụ ở lại địa phương hoạt động phát triển cơ sở cách mạng; (3) Người tham gia hoạt động cách mạng tháng Tám năm 1945 và sau ngày khởi nghĩa đến ngày 31/8/1945 giữ một trong các chức vụ ngươi đứng đầu quy định tại điểm này hoặc tham gia tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc tương đương trở lên; Liệt sĩ: là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận. Bà mẹ Việt Nam anh hùng: là người được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo quy định tại Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” theo quy định của pháp luật. Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến: là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến. Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31/12/ 1993; người hưởng chính sách như thương binh: (1) Là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Công an nhân dân bị thương có tỷ lệ tổn 12 thương cơ thể từ 21% trở lên được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét công nhận là thương binh, cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh”; (2) Là người không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Công an nhân dân bị thương có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét công nhận là người hưởng chính sách như thương binh và cấp “Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh”; (3) Thương binh loại B là quân nhân, công an nhân dân bị thương có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31/12/1993;… Bệnh binh: là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội nhân dân và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong Công an nhân dân bị mắc bệnh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên khi làm nhiệm vụ cấp bách, nguy hiểm mà không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” khi thôi phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: là người đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong khoảng thời gian từ ngày 01/8/1961 đến ngày 30/4/1975 tại vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học ở chiến trường B, C, K và một số địa danh thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bị nhiễm chất độc hoá học được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học”.
Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày: là người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày trong thời gian bị tù, đày không khai báo thông tin có hại cho cách mạng, kháng chiến, không làm tay sai cho địch, được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày. 13 Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế: là người tham gia kháng chiến và được Nhà nước khen tặng Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến thắng, Huy chương Kháng chiến, Huy chương Chiến thắng. Người có công giúp đỡ cách mạng: là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước khen tặng thuộc một trong các trường hợp: (1) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước cách mạng tháng Tám năm 1945; (2) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến; (3) Người được tặng hoặc người trong gia đình được tặng Huy chương Kháng chiến [24]. Cũng theo Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020, đối tượng được hưởng ưu đãi không chỉ là người có công với cách mạng như trên mà còn bao gồm cả thân nhân của họ, đó là những người có có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng người có công với cách mạng.
Ngoài ra, người có công với cách mạng không chỉ là người trực tiếp chiến đấu mà còn bao gồm những người đã giúp đỡ, cống hiến (Bà mẹ Việt Nam anh hùng) cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Đất nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài, đầy gian khổ để giành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế. Vì vậy số lượng người có công với cách mạng ở nước ta rất lớn. Với việc thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, Đảng và Nhà nước đã xây dựng nhiều chính sách để bù đắp, tri ân, biết ơn những người có công với cách mạng.