Chương 1 THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH GIA LAI TRƯỚC NĂM 1996 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Về vị trí địa lý Gia Lai là một tỉnh nằm ở khu vực Bắc Tây Nguyên, có diện tích 15.536,92 km2, nằm trong tọa độ từ 12 05840 đến 1403700 vĩ độ Bắc và từ 10702730 đến 10805440 kinh độ Đông [11, tr. Đây là tỉnh rộng lớn nhất trong 5 tỉnh Tây Nguyên.
Phía Bắc, Gia Lai tiếp giáp tỉnh Kon Tum; Nam giáp tỉnh Đăk Lăk; Đông giáp các tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; Tây giáp tỉnh Ratanakiri thuộc Vương quốc Campuchia trên chiều dài 90 km đường biên giới. Địa danh Gia Lai có từ năm 1932. Tên của tỉnh Gia Lai là biến âm từ tộc danh Gia Rai (Jarai) mà thành. Trong Sổ tay địa danh Việt Nam, Đinh Xuân Vịnh cũng viết:"Đạo Gia Lai ở Tây Nguyên thành lập năm 1932, tách từ tỉnh Kon Tum ra, đầu tiên gọi là đạo Trà Cú, Pháp gọi là Pleiku, lấy tên lỵ sở đạo mà gọi, sau đổi tên là đạo Gia Lai, lấy tên dân tộc thượng Gia Rai" [61, tr.
Án ngữ trên đỉnh cao nguyên Pleiku hùng vĩ, Gia Lai như nóc nhà của đồng bằng Bình Định, Phú Yên, Campuchia và là giao điểm của 3 tuyến quốc lộ quan trọng trong khu vực với tổng chiều dài 503 km, gồm: Quốc lộ 19 bắt đầu từ quốc lộ 1 (đoạn qua tỉnh Bình Định). Trên đất Gia Lai, quốc lộ này có chiều dài 196 km, qua hai đô thị lớn của tỉnh là thị xã An Khê (Đông Trường Sơn) và thành phố Pleiku (Tây Trường Sơn) nối với cửa khẩu Lệ Thanh ở huyện Đức Cơ, qua vùng Đông Bắc Campuchia sang Lào và Thái 10 Lan. Quốc lộ 14 đoạn qua tỉnh Gia Lai dài 112 km, chạy theo hướng Bắc - Nam, là con đường huyết mạch nối Gia Lai với Đông Nam Bộ vào thành phố Hồ Chí Minh có tổng chiều dài là 540 km. Quốc lộ 25 bắt đầu từ quốc lộ 1, (thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) nối vào quốc lộ 14 tại Mỹ Thạch (Chư Sê).
Chiều dài đoạn quốc lộ 25 trên địa bàn tỉnh Gia Lai là 111 km, qua các huyện Đông Nam của tỉnh như Krông Pa, Ayun Pa, Phú Thiện và Chư Sê. Sân bay Pleiku đến nay vẫn là cửa ngõ duy nhất nối khu vực Bắc Tây Nguyên với mạng lưới hàng không của cả nước. Vị trí địa lý cùng với hệ thống mạch máu giao thông tạo cho Gia Lai vị thế đặc biệt quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng đối với các tỉnh Tây Nguyên, vùng Duyên hải miền Nam Trung Bộ và cả nước. Ngoài các quốc lộ, Gia Lai còn đầu tư xây dựng 11 tuyến tỉnh lộ quan trọng với tổng chiều dài 473 km nối liền với 16 đơn vị hành chính nội tỉnh toả đến các trung tâm của 215 xã phường, thị trấn, thuận lợi cơ bản cho việc giao lưu và sản xuất của nhân dân tỉnh nhà.Tài nguyên thiên nhiên Gia Lai nằm trên một phần của nền đá cổ rộng lớn, phần lớn diện tích tự nhiên nằm ở sườn Tây của dãy Trường Sơn.
Độ cao trung bình của tỉnh từ 700m - 800 m, Kon Ka Kinh có độ cao 1.761m là đỉnh cao nhất, thuộc huyện Kbang. Địa hình toàn tỉnh có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, thoải dần từ đỉnh (là trục đường 14) sang hai phía Đông và Tây với các đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ nhau khá phức tạp. - Núi ở Gia Lai phần lớn nằm ở phía Bắc. Từ Kon Ka Kinh (1761m) thuộc địa bàn huyện Kbang, chạy về phía Nam núi chia thành 2 hệ.
Hệ núi thứ nhất (qua đèo An Khê-thuộc dãy An Khê): chạy dọc phía Đông tỉnh tạo thành dải phân cách tự nhiên giữa Gia Lai với các tỉnh tiếp giáp ven biển miền Trung bị đứt gẫy đột ngột tại đèo An Khê (500 m), rồi lại được 11 nâng lên ở phía Nam tại Đông huyện Kông Chro và thấp dần khi vào vùng đồng bằng Ayun Pa, Krông Pa. Hệ núi thứ hai (qua đèo Mang Yang): chia Gia Lai thành 2 phần là Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn với những đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, môi sinh khác biệt. Ngoài hai hệ núi trên, bề mặt các dạng địa hình khác của Gia Lai như các cao nguyên, những đồng bằng cũng đều rải rác có núi. Vùng núi của Gia Lai, thung lũng thường hẹp, rừng nhiều, đất trồng trọt ít và phân tán, dân cư thưa thớt.
Tuy nhiên, đây lại là khu vực có độ che phủ lớn, là đầu nguồn của nhiều sông suối có ảnh hưởng quan trọng đến môi trường sinh thái của Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải miền Trung và Đông Bắc Campuchia. Núi Gia Lai còn bảo lưu được nhiều loài động, thực vật quý, hiếm. - Cao nguyên là địa hình phổ biến và quan trọng của Gia Lai. Toàn tỉnh có hai cao nguyên.
Cao nguyên Kon Hà Nừng ở phía Đông Trường Sơn, có diện tích khoảng 1.250 km2, trải dài từ Nam huyện Kon Plông (tỉnh Kon Tum) và chiếm gần trọn địa bàn huyện Kbang. Toàn bộ bề mặt cao nguyên được phủ bởi tổ hợp nham bazan màu xám xanh, thấp dần từ Bắc xuống Nam với độ dốc trung bình từ 12 0 - 180. Cao nguyên Pleiku có diện tích 4.550 km2, là một trong hai cao nguyên rộng lớn nhất Tây Nguyên. Cao nguyên này kéo dài từ Nam thị xã Kon Tum xuống tận khối Chư Pah và từ đèo Mang Yang sang biên giới Việt Nam - Campuchia.
Cao nguyên Pleiku có hình vòm, đỉnh ở Chư Hdrung (núi Hàm Rồng) cao 1. Phía Bắc và Đông Bắc cao từ 750 - 800 m, về phía Nam độ cao chỉ còn 400m. Nền địa chất của cao nguyên Pleiku tương đối đồng nhất, chủ yếu là đá bazan màu xám đen, lớp đất dày, tơi xốp, màu mỡ. 12 - Các miền trũng của Gia Lai là những vùng sớm được con người khai thác, có vị trí rất quan trọng trong việc cung cấp lương thực cho cư dân địa phương.
Hầu hết các vùng trũng này nằm ở phía Đông của tỉnh như: Cánh đồng An Khê, vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc (nay thuộc các huyện Ayun Pa, Ia Pa và Krông Pa). Vùng trũng An Khê có diện tích 1.312 km2, kéo dài theo hướng Đông Bắc, Tây Nam. Phía Bắc giáp cao nguyên Kon Hà Nừng, Nam giáp vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc và vùng núi thấp Chư Trian, ranh giới phía Đông và Tây của vùng là 2 hệ núi chạy qua đèo An Khê và đèo Mang Yang. Vùng trũng Cheo Reo - Phú Túc nằm trọn trong địa hào sông Ba với diện tích 1.474 km2, tiếp nối vùng trũng An Khê về phía Đông Nam tỉnh.
Vùng trũng này có cấu tạo đá khá phức tạp bao gồm 2 nhóm đá chính là bồi tích, phù sa và trầm tích hỗn hợp. - Đất đai tỉnh Gia Lai có 26 loại, gồm 7 nhóm chính. Theo kết quả nghiên cứu dự án SMCN/2002/085 do Viện Khoa học Kỹ thuật khảo sát [46, tr.21] phân loại như sau: Nhóm đất phù sa có diện tích 64.218 ha, chiếm 4,5% diện tích tự nhiên, phân bố ở nơi có địa hình bằng, gần nguồn nước (sông hay suối lớn), tầng đất dày. Đây là loại đất tốt, thích hợp với việc trồng lúa, các loại rau, hoa màu lương thực.
Nhóm đất xám có diện tích 364.638 ha, chiếm 23,5% tổng diện tích đất đai toàn tỉnh, được hình thành trên phù sa cổ, đá macma axit và đất cát, nên nghèo dinh dưỡng. Nhóm đất này thường phân bố tập trung thành vùng dọc theo sông Ba, sông Ayun ở Tây Nam huyện Chư Prông và các huyện, thị: An Khê, Đak Pơ, Ayun Pa, Ia Pa. Loại đất này thích hợp với những loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, vừng, sắn, thuốc lá, đậu đỗ các loại, hoặc trồng rừng để bảo vệ đất. 13 Nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất trong các nhóm đất của tỉnh, với 756.433 ha, chiếm 48,8% tổng diện tích tự nhiên, tập trung ở các huyện trên cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hà Nừng.
Đây là nhóm đất rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, yêu cầu độ phì cao như cà phê, chè, cao su và cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, lương thực. Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi có diện tích 90.481 ha chiếm 5,8% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu trong vùng núi cao phía Bắc và Đông Bắc tỉnh, ở độ cao từ 1.000m trở lên, địa hình dốc, chia cắt mạnh. Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp. Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích 164.751ha, chiếm 10,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, tập trung ở các huyện thị: An Khê, Ayun Pa, Phú Thiện, Krông Pa.
Do đất bị xói mòn nhiều nên tầng mặt bị trơ ra những lớp đá hoặc lớp kết vón. Địa hình đồi hoặc núi thấp, nhưng lượn sóng và chia cắt sâu, ở độ cao từ 800m trở xuống. Nhóm đất này không có khả năng khai thác để phát triển nông nghiệp mà chỉ thích hợp trồng rừng để bảo vệ đất. Nhóm đất đen và nhóm đất thung lũng dốc tụ chiếm 6,8 %.
Nhóm đất đen phân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư Prông, Chư Sê và Đức Cơ. Trên diện tích này cần trồng rừng, khôi phục thảm thực vật bề mặt để bảo vệ đất. Nhóm đất thung lũng dốc tụ có diện tích ít nhất, phân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư Sê, vùng Ayun Pa và quanh thành phố Pleiku, thích hợp cho việc trồng lúa nước, hoa màu và rau các loại. - Tài nguyên nước ở Gia Lai có tổng trữ lượng khoảng 23 tỉ m3, phân bố trên các hệ thống sông chính là: hệ thống sông Ba, hệ thống sông Sê San và hệ thống sông Srê Pôk [47, tr.
Hệ thống sông Ba là con sông dài thứ hai (304 km) trên Tây Nguyên. Nó bắt nguồn từ núi Ngok Rô ở độ cao 1.240 m trên dãy Ngok Linh, sông Ba chảy theo sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, qua các huyện Kbang, An 14 Khê, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa và Krông Pa của tỉnh Gia Lai. Lưu vực sông chiếm diện tích 13.000 km2 và là lưu vực sông rộng lớn nhất Tây Nguyên với diện tích 11.450km2, bồi đắp phù sa màu mỡ cho các cánh đồng ven sông. Đây là nguồn chính cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho các huyện phía Đông tỉnh Gia Lai.
Hệ thống sông Sê San ở phía Tây Bắc tỉnh. Sông Sê San có 2 nhánh lớn là Đak Bla, Pôkô và một nhánh nhỏ đổ về phía hạ lưu là sông Sa Thầy.