chương 1, bài viết đã trình bày bối cảnh nghiên cứu, tình hình nền kinh tế Việt Nam trong một nền kinh tế quốc tế đầy biến động và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như tỉ giá, chính trị, nợ công và sự tương tác của các yếu tố này. Bằng việc sử dụng dữ liệu theo tháng từ 01/2000 đến tháng 06/2015 của các biến như chỉ số giá sản xuất, lạm phát, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực và lãi suất của quốc gia có tỷ giá mà Việt Nam neo vào, sử dụng các biến số này vào mô này New Keynesian hiệu chỉnh rồi hồi quy bằng phương pháp GMM. Kết quả kì vọng đạt được sẽ trả lời cho câu hỏi chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ tác động đến lạm phát và sản lượng như thế nào khi vẫn duy trì tỷ giá cố định. Mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khác bài nghiên cứu cũng kỳ vọng trả lời cho câu hỏi chính sách tiền tệ của Việt Nam chịu tác động của chính sách tiền tệ của Mỹ, vai trò của dự trữ ngoại hối cũng như mức độ hợp lý của các quyết định trong chính sách tiền tệ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Mô hình New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ Trong những năm gần đây, khuôn khổ lý thuyết New Keynesian đã trở thành khuôn khổ chi phối việc phân tích chính sách tiền tệ. Khuôn khổ này kết hợp đồng thời những tiến bộ của mô hình kinh tế vĩ mô từ lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế – kỹ thuật cân bằng động tổng quát vào một mô hình rõ ràng và công nhận sự tồn tại tính cứng nhắc của mức giá danh nghĩa, dẫn đến hiệu ứng phi trung lập của chính sách tiền tệ. Mô hình đơn giản nhất phát sinh từ khuôn khổ này chính là mô hình New Keynesian. Mô hình New Keynesian bao gồm ba phương trình - đường cong IS xác định sản lượng; đường cong Phillips xác định lạm phát; và quy tắc lãi suất xác định hành vi của chính sách tiền tệ.
Mô hình New Keynesian có lý thuyết dễ dàng ứng dụng trong công việc nghiên cứu, tương tự cấu trúc trong mô hình truyền thống IS/LM nhưng được bắt đầu xác định từ kinh tế vi mô với các yếu tố đại diện được tối ưu hóa. Do đó, mô hình này tạo điều kiện thuận lợi kết nối các nhà hoạch định chính sách với các nhà nghiên cứu về mặt lý thuyết theo cùng một định hướng (Soderstrom và đồng sự, 2002). Còn theo Olivier Blanchard và Jordi Gali (2010) thì cho rằng mô hình New Keynesian đã nổi lên như là một công cụ mạnh để phân tích chính sách tiền tệ trong sự hiện diện của tính cứng của giá cả danh nghĩa. Một số lượng lớn các bài nghiên cứu đã áp dụng mô hình New Keynesian để phân tích chính sách tiền tệ: Clarida và các đồng sự (1998) công bố bài nghiên cứu “Chính sách tiền tệ trong thực tế – Một vài bằng chứng quốc tế”, nghiên cứu phản ứng của chính sách tiền tệ cho hai nhóm nước: G3 (Đức, Nhật, Mỹ) và E3 (Anh, Pháp và Ý).
Kết quả cho thấy từ năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 1979, ngân hàng trung ương của các quốc gia nhóm G3 đã theo đuổi chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ngầm, chính sách này đã đem lại thành công cho họ trong khoảng thời gian đó. Đối với các nước trong nhóm E3, ngân hàng trung ương đã sử dụng lãi suất cao hơn mức có thể làm ổn định nền kinh tế vĩ mô. Kết quả hỗ trợ cho giả thuyết rằng các ngân hàng trung ương nhắm đến mục tiêu lạm phát song song với tỷ giá cố định để cách đạt được mốc neo danh nghĩa trong chính sách tiền tệ. Soderstrom và các đồng sự (2002) trong bài nghiên cứu của mình cho rằng các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình hiệu chỉnh bởi vì các giải pháp phân tích thường không có sẵn mô hình, nên cho dù số liệu là phù hợp thì cũng chưa chắc mô hình đó phù hợp để phân tích chính sách.
Do đó, mục đích của bài viết là để kiểm tra liệu mô hình New Keynesian có thể được hiệu chỉnh để phù hợp với đặc điểm lớn của dữ liệu Mỹ. Tác giả xem xét các quyết định của ngân hàng trung ương ảnh hưởng đến các đặc tính thời gian của lạm phát, lãi suất danh nghĩa và lỗ hổng sản lượng như thế nào và tác giả cũng hiệu chỉnh mô hình để phù hợp với một số sự kiện biến động lớn trong nền kinh tế Mỹ. Tác giả kết luận rằng quy tắc Taylor thật sự có một số lỗi trong ước tính và mô hình hiệu chỉnh theo Keynes cho ra kết quả hợp lý hơn với hành vi vi mô của các công ty thật sự có tác động đến chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu tương lai. Gerberding và các đồng sự (2008) nghiên cứu phản ứng chính sách tiền tệ thông qua lạm phát mục tiêu.
Bài viết xem xét phản ứng lãi suất đối với các thay đổi trong lạm phát, sự thay đổi trong khoảng cách đầu ra, với những cú sốc về cầu và độ trễ của lãi suất. Kết quả cho thấy rằng ngoài việc neo vào các kỳ vọng lạm phát dài hạn, chính sách tiền tệ còn nhắm tới những mục tiêu kỳ vọng khác trong tương lai dựa vào lỗ hổng sản lượng. Leith và các đồng sự (2009) cho rằng mô hình New Keynesian đã sử dụng thói quan tiêu dùng để suy ra sản lượng phản ứng với những cú sốc trong chính sách tiền tệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 theo quy tắc giá dính (không thể thay đổi lập tức). Tác giả nghiên cứu tác động của những thói quen tiêu dùng thường thấy và thói quen sâu hơn ở cấp độ cá nhân đã tạo ra những biến dạng trong nền kinh tế, làm cho chính sách tiền tệ không còn phát huy được tác dụng tối ưu, qua đó đề xuất những quy tắc tiêu chuẩn đơn giản của hành vi tiêu dùng.
Blanchard và Gali (2010) xây dựng một mô hình hữu ích dựa trên biến động giá dính danh nghĩa và thất nghiệp với những rào cản thị trường lao động, tiền lương thực tế cứng nhắc để giải thích biến động tỷ lệ thất nghiệp, những tác động của các cú sốc năng suất đến nền kinh tế, và vai trò của chính sách tiền tệ trong việc hình thành những hiệu ứng. Kết quả cho thấy rằng một thị trường lao động chặt chẽ hơn làm tăng chi phí cận biên và ảnh hưởng đến lạm phát. Lạm phát và thất nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của thị trường lao động. Những sự khác biệt này dẫn đến sự khác biệt quan trọng trong phản ứng của nền kinh tế trước những cú sốc.
Điều này cho thấy rằng, tùy theo đặc điểm thị trường, ổn định làm phát có thể không phải là chính sách tiền tệ tốt nhất. Ổn định lạm phát nghiêm ngặt có thể dẫn đến biến động không thuận lợi, lớn, và liên tục của tỷ lệ thất nghiệp trong phản ứng với những cú sốc năng suất.2 Chính sách tiền tệ của một nền kinh tế mở, nhỏ với tỷ giá cố định Đặc điểm phân biệt hầu hết các nước đang phát triển so các nước công nghiệp lớn là sự biến động lớn trong cán cân thương mại khi chịu tác động của các cú sốc cung, đặc biệt ở thị trường tài chính quốc tế. Các quốc gia này khó có khả năng ổn định giá cả cũng như điều chỉnh các rủi ro mặc định trong cuộc khủng hoảng. Bị tác động mạnh với kết cấu một nền kinh tế mở, nhỏ, các quốc gia vẫn theo đuổi chính sách tỷ giá cố định liệu có thể có được một chính sách tiền tệ độc lập, tối ưu, hướng đến các mục tiêu trong nước hay không, đã có nhiều bài nghiên cứu đã được tiến hành để trả lời cho câu hỏi này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Dennis (2001) cho rằng tỷ giá hối đoái là một biến số quan trọng trong nền kinh tế mở, nhỏ. Biến động tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả của các hàng hóa được giao dịch trên thị trường thế giới. Hàng hóa nhập khẩu đều được mua bởi người tiêu dùng và được sử dụng như là đầu vào cho quá trình sản xuất. Khi tỷ giá hối đoái của nền kinh tế giảm, hàng nhập khẩu tăng giá, làm tăng giá hàng tiêu dùng, trực tiếp nâng cao chỉ số giá của người tiêu dùng.
Giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu trung gian cũng tăng lên, làm tăng chi phí sản xuất của các công ty. Chi phí sản xuất cao hơn cũng có xu hướng dẫn đến một giá tiêu dùng cao hơn. Về phía nền kinh tế thực, mức độ của tỷ giá hối đoái thực ảnh hưởng đến nhu cầu thế giới đối với hàng hoá sản xuất trong nước. Một sự giảm trong tỷ giá thực tế dẫn đến nhu cầu ít hơn đối với hàng hoá sản xuất trong nước, cả người tiêu dùng trong và ngoài nước đều thấy rằng hàng hóa nước ngoài rẻ hơn sơ với hàng hoá trong nước.
Do đó, một chiến lược nhắm mục tiêu lạm phát giá tiêu dùng có thể dẫn đến biến động lãi suất đáng kể, khi các nhà hoạch định chính sách cố gắng trung hòa tác động của tỷ giá hối đoái trên giá tiêu dùng. Lãi suất và biến động tỷ giá hối đoái có thể dẫn đến biến động của sản lượng thực tế. Do đó, nền kinh tế mở, nhỏ nên nhắm mục tiêu một thước đo lạm phát không bao gồm giá cả của hàng hóa có thể giao dịch, hoặc ít nhất, các nhà hoạch định chính sách nên loại ra ngoài biến động tỷ giá khi thiết lập chính sách. Tất nhiên điều này không dễ dàng thực hiện vì giá nhiều mặt hàng chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái, chứ không phải chỉ những hàng háo có thể giao dịch trên thị trường thế giới.
Nếu các nhà hoạch định chính sách đang lo ngại về những tác động thực sự của chính sách, họ có thể chuẩn bị sẵn sàng cho phép lạm phát quay trở lại với tỷ lệ mục tiêu của nó chậm hơn, sau khi biến động lãi suất và biến động tỷ giá hối đoái được ổn định. Stiglitz (2001) thảo luận về chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái, rủi ro tài chính có liên quan đến các nền kinh tế mở, nhỏ cùng với phân tích các chính sách can thiệp để giảm thiểu và quản lý những rủi ro này cho trường hợp cụ thể của Iceland. Các nền kinh tế mở, nhỏ rất dễ bị khủng hoảng tiền tệ và tài chính.