CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Cơ quan hành chính nhà nước Trong khoa học hành chính, khái niệm về CQHCNN được các nhà nghiên cứu hành chính đưa ra với nội hàm là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước, được thành lập để thực hiện chức năng hành pháp (quản lý hành chính nhà nước). Đây là khái niệm được sử dụng nhiều trong hoạt động nghiên cứu, học tập của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và các đối tượng đang theo học các chuyên ngành Hành chính. Trong phân cấp quản lý hành chính nhà nước, CQHCNN của các nước hiện nay được phân thành CQHCNN trung ương và địa phương.
CQHCNN trung ương được gọi chung là chính phủ, một số tài liệu còn gọi là chính quyền trung ương. Còn CQHCNN địa phương, tùy thuộc vào thể chế chính trị của mỗi quốc gia mà có thể có cách đặt tên khác nhau như: chính quyền các bang, tỉnh, thành phố, chính quyền địa phương,. Chính phủ thống nhất quản lý hành chính nhà nước trên phạm vi quốc gia còn chính quyền địa phương chịu trách nhiệm thống nhất quản lý hành chính nhà nước trên phạm vi địa phương. Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định của pháp luật, CQHCNN bao gồm Chính phủ và UBND các cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã: - Chính phủ là CQHCNN cấp trung ương, thống nhất quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi quốc gia.
Hệ thống các cơ quan của Chính phủ gồm có: các bộ, cơ quan ngang bộ là những cơ quan chuyên môn của Chính phủ thực hiện quản lý hành chính nhà nước trên từng ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. - UBND các cấp là CQHCNN địa phương, thống nhất quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi của mỗi 12 cấp địa phương. Hệ thống các CQHCNN địa phương bao gồm: (1) Hệ thống CQHCNN cấp tỉnh (UBND cấp tỉnh) gồm: các sở và cơ quan ngang sở là những cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đây là các CQHCNN cao nhất trong các CQHCNN địa phương.
(2) Hệ thống CQHCNN cấp huyện (UBND cấp huyện) gồm: các phòng và cơ quan tương đương thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Từ lý luận ở trên, tác giả luận văn đồng ý với khái niệm về cơ quan hành chính nhà nước của Học viện Hành chính quốc gia trong “Thuật ngữ Hành chính”, Hà Nội, 2002 (tr. 30): “CQHCNN là một bộ phận (cơ quan) cấu thành của bộ máy hành chính nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện chức năng quản lý, điều hành (chức năng hành pháp) đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”. Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lương cao 1.
Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật chất và phi vật chất tạo nên kinh tế của một đất nước và thúc đẩy nó phát triển. Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội. Nhân lực có thể được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý, Trung tâm Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin, năm 2013) thì: Nhân lực là sức người dùng trong sản xuất [46].
Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người, vốn người. Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, cung cấp lao động cho nền sản xuất nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của xã hội. Cho đến nay, đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này, nổi bật có các quan niệm sau đây: Theo quan điểm của Liên hiệp quốc trong quá trình đánh giá những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa như sau: “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ 13 cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển KT - XH trong một cộng đồng”. Cách tiếp cận này đã đánh giá cao và đặc biệt coi trọng chất lượng nguồn nhân lực.
Vì vậy, việc khai thác năng lực thực tế và tiềm năng của nguồn nhân lực gắn liền và phụ thuộc vào cơ chế quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của các nhà quản lý. Theo giáo trình kinh tế lao động thì: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác là ở chỗ: trong quá trình vận động, nguồn nhân lực chịu tác động của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội. Chính vì vậy, nguồn nhân lực là một khái niệm khá phức tạp, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Theo thuyết lao động xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa như sau: - Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Vì vậy, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường. - Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Xét trên bình diện quốc gia hay địa phương thì GS.TS Phạm Minh Hạc đã xác định: “nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó”.
Theo cách hiểu này, có thể hiểu nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tổ chức, một 14 địa phương hay một quốc gia. Độ tuổi lao động được quy định cụ thể ở mỗi nước có khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định của Bộ Luật lao động tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi.
Đánh giá về nguồn nhân lực, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại”. Quan niệm về nguồn lực con người của Đảng ta đã phản ánh tổng quát nguồn nhân lực trên cả ba phương diện trí lực, thể lực, nhân cách và cơ sở khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học hiện đại [12]. Theo Liên Hiệp Quốc, “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”.
Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức lao động quốc tế thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. Khi nghiên cứu khái niệm nguồn nhân lực, xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng cơ bản các khái niệm trên đều thống nhất nội dung về nguồn nhân lực và tác giả đưa ra khái niệm nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, bao gồm tất cả những tiềm năng của những người trong độ tuổi có khả năng lao động, trong đó thể hiện ở thể lực, trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống, vị thế xã hội và sự kết hợp giữa các yếu tố đó có thể sử dụng, phát huy giá trị của người lao động để tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức và xã hội. 15 Về nguồn nhân lực chất lượng cao: Trên thế giới, có hai thuật ngữ có liên quan thường được sử dụng là talent (nhân tài) và skilled worker (lao động có kỹ năng/trình độ) hay highly skilled worker (lao động có kỹ năng/trình độ cao).
Talent (nhân tài) thường để chỉ những người có tài năng, năng khiếu bẩm sinh để làm một công việc nhất định. Còn lao động có trình độ (cao) là để chỉ những người có những kỹ năng thực hiện công việc thông qua quá trình đào tạo, huấn luyện hoặc làm việc. Nhưng thông thường, thuật ngữ “nhân tài” vẫn được sử dụng để chỉ những người có trình độ cao, có năng lực, uy tín trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định. Ngoài ra, còn có các thuật ngữ có liên quan như thiên tài (người có tài năng, năng khiếu thiên phú đặc biệt, hơn hẳn người thường), hiền tài… Cho đến nay thuật ngữ NNLCLC chưa thấy xuất hiện trong Từ điển Bách khoa Việt Nam cũng như các từ điển khác, mặc dù trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước được dùng khá phổ biến.
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Đảng ta lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ NNLCLC. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh thuật ngữ này khi đưa ra định hướng chính sách tập trung phát triển nhanh NNLCLC. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thì Đảng ta đã xác định: “phát triển và nâng cao NNL, nhất là NNLCLC là một đột phá chiến lược, là một yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”. Có hai cách tiếp cận định nghĩa NNLCLC, phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và nguồn dữ liệu phân tích.