CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀTHU HÚT FDI 1. Chính sách thu hút FDI 1. Khái niệm FDI FDI (Foreign Direct Investment - FDI) là hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm. FDI là dạng đầu tư mà chủ thể của nó chủ yếu là tư nhân, được nước tiếp nhận đầu tư cho phép đầu tư toàn bộ hay một phần vốn vào một dự án nào đó, nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận.
FDI đã trở thành hình thức đầu tư phổ biến và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về FDI: Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn, “FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi” [35, tr. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): “FDI là một hoạt động đầu tư quốc tế trong đó một thực thể trong một nền kinh tế thu lại lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp thường trú tại một nền kinh tế khác. Đầu tư trực tiếp hàm ý một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và nhà đầu tư đó có một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đầu tư trực tiếp đó” [35; tr.Theo định nghĩa này của IMF,khi tiến hành hoạt động FDI, nhà đầu tư thường đặt các mục tiêu đem lại lợi ích dài hạn và nhà đầu tư phải là người có quyền kiểm soát một 10 phần đáng kể doanh nghiệp.
Mọi kế hoạch hay mọi quyết định, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp, thì nhà đầu tư đó đều có quyền đưa ra ý kiến. Trong một định nghĩa khác của Ngân hàng Thế giới (WB): “FDI là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác”. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và các đối tác đầu tư địa phương [36,tr. Theo Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 định nghĩa như sau: “FDIlà việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” [19,tr.
Tuy nhiên, sau khi sửa đổi Luật đầu tư 2005 không có định nghĩa cụ thể về FDI nhưng theo khoản 2 và khoản 12, điều 3 định nghĩa: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [20, tr.“Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [20, tr. Như vậy, từ các quan điểm đã nêu ở trên, có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn bằng tiền hay tài sản khác vào nước nhận đầu tư để trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm của FDI FDI với tư cách là xuất khẩu tư bản trực tiếp có những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư là mục tiêu lợi nhuận cao, song cũng có nét đặc thù: Một là, FDI gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp. Nguồn vốn và công nghệ của nước ngoài được đem đến để xây dựng nhà máy, xí nghiệp, 11 do đó nguồn vốn bị chôn chặt và không dễ dàng dịch chuyển từ ngành này sang ngành khác, từ vùng, quốc gia này sang vùng, quốc gia khác.
FDI thường được đánh giá là nguồn vốn tương đối ổn định, ít gây ảnh hưởng xấu đối với tình hình kinh tế vĩ mô của các nước tiếp nhận, do đó thường được các nước đang phát triển chú trọng quan tâm thu hút và sử dụng. Hai là, chủ thể của FDI là các chủ thể tư nhân, mục tiêu đầu tư là lợi nhuận cao, do đó FDI thường xuất hiện tại các nước tiếp nhận sau hình thức đầu tư gián tiếp của chính phủ nước xuất khẩu, khi các điều kiện SXKD đã được xác lập tương đối đồng bộ, thuận lợi. Đồng thời, FDI luôn tập trung vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn có môi trường kinh doanh thuận lợi. Ba là, FDI thường sử dụng công nghệ khác biệt nhằm tận dụng lợi thế trong phân công lao động quốc tế để giảm chi phí, giảm sức ép cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp của nước tiếp nhận FDI.
Bốn là, nguồn vốn FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn, trực tiếp từ bên ngoài vì vậy đối với nước tiếp nhận đầu tư thì đây chính là nguồn vốn dài hạn bổ sung hết sức cần thiết trong nền kinh tế. Phân loại các hình thức FDI Căn cứ vào đặc điểm của FDI có thể phân loại các hình thức FDI theo bản chất và mức độ tham gia của nhà đầu tư. -Phân loại theo bản chất đầu tư: Xét về bản chất đầu tư, có thể chia thành hai hình thức chủ yếu là Đầu tư mới (Greenfield Investment (GI)) và Mua lại và sáp nhập (Cross-border Merger and Acquisition (M&A)), ngoài ra còn có hính thức Đầu tư BI (Brownfield Investment)[14; tr. - Phân loại theo mức độ tham gia của nhà đầu tư Hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là hình thức liên doanh liên kết giữa một bên là đối tác trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở quy 12 định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh giữa các bên trong các văn bản ký kết mà không thành lập pháp nhân mới.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Đây là loại hình doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài đóng góp toàn bộ vốn thành lập, trực tiếp tổ chức quản lý và điều hành. Hình thức BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý. Hết thời hạn kinh doanh, nhà đầu tư sẽ chuyển giao công trình mà không bồi hoàn cho nước sở tại. Phạm vi áp dụng đối tượng hợp đồng là các công trình cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực giao thông, hệ thống thủy điện,… Hình thức BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh) là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng.Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư sẽ chuyển giao công trình đó cho cơ quan sở tại.
Cơ quan sở tại sẽ dành cho nhà đầu tư có quyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng. Hình thức này khá giống hình thức BOT nhưng khác ở một điểm là sau khi xây dựng xong công trình được chuyển giao ngay cho nước sở tại, sau đó mới được quyền kinh doanh. Hình thức BT (Xây dựng – Chuyển giao) là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng.Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại. Nước sở tại sẽ thanh toán cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc có thể tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
13 Hình thức PPP (Public – Private Partnership) là hình thức hợp tác công – tư nhân, PPP là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nhằm xây dựng công trình, cung cấp dịch vụ với một số tiêu chí riêng [15; tr. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân vì tận dụng được nguồn lực tài chính, quản lý từ nhà đầu tư, trong khi vẫn đảm bảo lợi ích cho người dân. Các hình thức BOT, BTO, BT, PPP rất phù hợp với các nước đang phát triển nơi mà cơ sợ hạ tầng còn yếu kém và không có đủ vốn để xây dựng. Mỗi hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đều có ưu điểm, nhược điểm riêng.
Do đó, việc kết hợp hài hòa lợi ích của các bên tham gia đầu tư cũng như phù hợp với mục tiêu của từng địa phương sẽ lựa chọn được hình thức đầu tư vốn FDI ưu việt nhất để phát huy được tiềm năng của từng địa phương và đem lại lợi ích cho nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách thu hút FDI 1. Khái niệm “Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phương tiện truyền thông và trong đời sống xã hội.Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện các đường lối, nhiệm vụ.Chính sách khi gắn với vai trò, chức năng của khu vực công được gọi là chính sách công. “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [7;tr.
Có thể thấy rằng chính sách thu hút FDI là chính sách công và là một bộ phận của chính sách kinh tế đối ngoại, có liên kết chặt chẽ với các chính sách khác thành một hệ thống, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục tiêu chung của 14 chính sách kinh tế - xã hội. Chính sách thu hút FDI được ban hành nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn FDI để tận dụng hết các nguồn lực trong nước như tài nguyên, đất đai, lao động, phục vụ cho việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã định.