Chính Sách Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Trên Địa Bàn Thành Phố Sơn La

Luận văn thạc sĩ TMU phân tích chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Sơn La, đề xuất giải pháp hiệu quả cho phát triển.

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Tác giả

Lò Quốc Việt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2020

111
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.2. Tạo việc làm

1.3. Chính sách tạo việc làm

1.4. Chính sách tạo việc làm cho thanh niên

1.5. Nội dung của chính sách tạo việc làm cho thanh niên

1.6. Đối tượng và mục tiêu của chính sách tạo việc làm cho thanh niên

1.7. Yêu cầu của chính sách tạo việc làm cho thanh niên

1.8. Quy trình thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên

1.9. Các yếu tố ảnh hưởng

1.10. Kinh nghiệm về chính sách tạo việc làm cho thanh niên ở một số địa phương

1.10.1. Kinh nghiệm Chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên

1.10.2. Kinh nghiệm Chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

1.10.3. Một số bài học kinh nghiệm cho thành phố Sơn La

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA

2.1. Khái quát chung về thành phố Sơn La

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

2.2. Bộ máy quản lý nhà nước về việc làm của thanh niên tại thành phố Sơn La

2.3. Thực trạng chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Sơn La

2.3.1. Thực trạng xác định đối tượng, mục tiêu, yêu cầu của chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Sơn La

2.3.2. Quy trình thực hiện chính sách về việc làm của thanh niên tại thành phố Sơn La

2.3.3. Các chính sách tạo việc làm chủ yếu cho thanh niên tại thành phố Sơn La

2.3.4. Đánh giá chung về chính sách về việc làm của thanh niên trên địa bàn thành phố Sơn La

2.4. Hạn chế và nguyên nhân

3. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA

3.1. Dự báo phát triển kinh tế - xã hội thành phố Sơn La

3.2. Mục tiêu cụ thể

3.3. Giải pháp hoàn thiện chính sách về tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Sơn La

3.3.1. Giải pháp hoàn thiện quy trình chính sách tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Sơn La

3.3.2. Giải pháp hoàn thiện các chính sách giải quyết việc làm chủ yếu cho thanh niên trên địa bàn thành phố Sơn La

3.4. Một số kiến nghị

3.4.1. Kiến nghị với UBND tỉnh

3.4.2. Kiến nghị với bộ ngành trung ương

3.4.3. Kiến nghị với chính quyền địa phương UBND thành phố

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chính Sách Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Thành Phố Sơn La

Chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại thành phố Sơn La là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Thành phố Sơn La, với dân số trẻ chiếm tỷ lệ cao, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc tạo ra cơ hội việc làm cho thanh niên. Việc hiểu rõ về chính sách này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương.

1.1. Khái Niệm Chính Sách Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên

Chính sách tạo việc làm cho thanh niên được hiểu là các biện pháp, chương trình nhằm hỗ trợ thanh niên tìm kiếm việc làm, nâng cao kỹ năng và tạo ra cơ hội việc làm mới. Điều này bao gồm các hoạt động đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Chính Sách Tạo Việc Làm

Chính sách tạo việc làm không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế địa phương. Việc tạo ra việc làm ổn định cho thanh niên sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm thiểu các vấn đề xã hội.

II. Thách Thức Trong Chính Sách Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Sơn La

Mặc dù có nhiều chính sách được triển khai, nhưng việc tạo việc làm cho thanh niên tại Sơn La vẫn gặp nhiều khó khăn. Các thách thức này bao gồm sự thiếu hụt cơ hội việc làm, sự không đồng bộ giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động.

2.1. Thiếu Cơ Hội Việc Làm Cho Thanh Niên

Nhiều thanh niên tại Sơn La phải đối mặt với tình trạng thiếu việc làm, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Điều này dẫn đến việc nhiều người phải di cư đến các thành phố lớn để tìm kiếm cơ hội.

2.2. Sự Không Đồng Bộ Giữa Đào Tạo Và Nhu Cầu Thị Trường

Chương trình đào tạo nghề hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Nhiều thanh niên tốt nghiệp không có kỹ năng phù hợp, dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao.

III. Phương Pháp Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Thành Phố Sơn La

Để giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên, cần có những phương pháp hiệu quả và bền vững. Các giải pháp này bao gồm việc cải thiện chương trình đào tạo nghề, hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp.

3.1. Cải Thiện Chương Trình Đào Tạo Nghề

Cần thiết phải cập nhật và cải thiện chương trình đào tạo nghề để phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Điều này sẽ giúp thanh niên có được kỹ năng cần thiết để tìm kiếm việc làm.

3.2. Hỗ Trợ Khởi Nghiệp Cho Thanh Niên

Chính quyền địa phương cần có các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp cho thanh niên, bao gồm cung cấp vốn, đào tạo kỹ năng quản lý và kết nối với các nhà đầu tư.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Chính Sách Tạo Việc Làm Tại Sơn La

Việc triển khai các chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại Sơn La đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều thanh niên đã tìm được việc làm ổn định và có thu nhập cao hơn.

4.1. Kết Quả Đạt Được Từ Chính Sách

Nhiều chương trình đào tạo nghề đã giúp thanh niên có việc làm, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống. Các doanh nghiệp cũng đã nhận thấy lợi ích từ việc tuyển dụng lao động trẻ có kỹ năng.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm

Các bài học từ việc triển khai chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại Sơn La có thể được áp dụng cho các địa phương khác. Việc lắng nghe ý kiến của thanh niên và doanh nghiệp là rất quan trọng.

V. Kết Luận Về Chính Sách Tạo Việc Làm Cho Thanh Niên Tại Sơn La

Chính sách tạo việc làm cho thanh niên tại Sơn La cần được tiếp tục cải thiện và phát triển. Việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm không chỉ giúp thanh niên có cuộc sống tốt hơn mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương.

5.1. Định Hướng Tương Lai

Cần có các chính sách dài hạn nhằm tạo ra nhiều việc làm cho thanh niên, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu thị trường.

5.2. Khuyến Khích Sự Tham Gia Của Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp cần được khuyến khích tham gia vào các chương trình tạo việc làm cho thanh niên, từ đó tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho lực lượng lao động trẻ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận văn thạc sĩ tmu chính sách tạo việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố sơn la

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1.Một số khái niệm liên quan 1.Việc làm Con người là một nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Họ trở thành động lực cho sự phát triển khi họ có nhiều điều kiện sử dụng sức lao động để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho bản thân, gia đình họ và cho xã hội. Khái niệm việc làm được nhiều nhà kinh tế học, xã hội học quan tâm, tìm hiểu dưới nhiều góc độ, phạm vi đối tượng khác nhau của các ngành khoa học như xã hội học, kinh tế học, chính sách công, quản lý công… Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về thuật ngữ “Việc làm”. Thực tiễn hoạt động quản lý ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (Như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp, phong tục tập quán…) cũng hình thành nên các quan niệm về việc làm khác nhau.

Khái niệm việc làm còn bị chi phối bởi nhiều các quan niệm, lối tư duy cũ vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của con người trong xã hội. Vì vậy, cho đến nay chưa có một định nghĩa chung mang tính khái quát bao trùm về việc làm. Dưới góc độ lý luận, Mác cho rằng: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó”. Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Trong thực tế, việc làm thường được biểu hiện dưới 3 hình thức sau đây: Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc có thể là nhận hiện vật cho công việc đó.

Nói theo cách khác thì, NLĐ bỏ công sức ra lao động và được nhận lại thành quả lao động của chính mình sau một quá trình tham gia vào hoạt động lao động có thể bằng chân tay hoặc lao động bằng trí óc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Hai là, tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập. Tuy nhiên hoạt động này phải phù hợp với chuẩn mực của xã hội dưới góc độ pháp lý, sẽ không coi là việc làm nếu hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật và không được pháp luật thừa nhận. Ba là, yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp.

Theo khái niệm việc làm được đưa ra trong từ điển Tiếng Việt: “Việc làm là công việc được giao cho làm và được trả công”. Khái niệm này tương đối rộng, tuy nhiên nó chưa phản ánh được toàn diện hình thức việc làm trong hoạt động hàng ngày, bởi việc làm có thể tồn tại các trạng thái: Có người giao (Thể hiện mang tính quyền lực), làm một cách tự nguyện, thiện nguyện giúp đỡ người khác khi không có tác động sai khiến, hoặc người lao động hoàn toàn có thể tự tạo ra việc làm để có thu nhập mà không cần phải ai giao việc cho. Trong đó, quan điểm khác lại cho rằng: “Việc làm (Tiếng Anh là job, career) hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người. Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên, người tình nguyện, hoặc bắt đầu việc buôn bán.

Dưới góc độ pháp lý theo quan niệm quốc tế: Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, tổ chức năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (Viết tắt là ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm với các biểu hiện như sau: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, được trả tiền công, có lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì thu nhập hay vì lợi ích gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Như vậy, người có việc làm bao gồm những NLĐ đang làm việc ở cả trong và ngoài khu vực nhà nước có thu nhập đem lại vật chất để nuôi sống cho bản thân, gia đình hoặc mang lại lợi ích cho xã hội. Đây là khái niệm khá mềm dẻo, phù hợp với nền kinh tế thị trường theo hướng hiện đại trên cả hai phương diện kết cấu và thể chế, do đó được phần đông các quốc gia đang sử dụng làm quan niệm của việc làm. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý theo quan niệm ở Việt Nam: Quy định tại Khoản 1 Điều 9 Bộ Luật Lao động năm 2012 và khoản 2 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 thì: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.

Từ cách tiếp cận này cho thấy, nội hàm của khái niệm việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: Hoạt động lao động - Tạo ra thu nhập - Hoạt động đó phải hợp pháp, cụ thể: Thứ nhất, là hoạt động lao động của con người, thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Thứ hai, là hoạt động tạo ra thu nhập; Thu nhập chính là nhân tố quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy NLĐ làm việc để tạo ra của cải, vật chất, tinh thần cho bản thân, gia đình và cho xã hội. Thứ ba, dưới khía cạnh pháp lý thì hoạt động tạo ra thu nhập chỉ được coi là việc làm khi hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Đây là cách quan niệm về việc làm tương đối rộng, linh hoạt và mềm dẻo.

Việc chuẩn hóa khái niệm việc làm tạo cơ sở đồng nhất về mặt nhận thức, thống nhất cho lĩnh vực điều tra, nghiên cứu và hoạch định chính sách về việc làm.Tạo việc làm Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thơm (2008), “Tạo việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Tạo việc làm được chia thành hai loại: - Tạo việc làm mới: Là tạo ra những chỗ làm mới thu hút lao động mới vào làm việc. - Tạo việc làm đủ: Là tạo ra những chỗ làm việc đảm bảo thời gian quy định của Nhà nước trong ca, trong tuần làm việc hoặc ít hơn nếu người lao động không có mong muốn làm thêm.Chính sách tạo việc làm Chính sách tạo việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, mục tiêu, các giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó (Giáo trình Chính sách Kinh tế - Xã hội 2000, NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội). Chính sách tạo việc làm bao gồm các chính sách như: Chính sách thị trường lao động, kết nối cung cầu lao động, chính sách đào tạo nghề cho người lao động, chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh, chính sách đào tạo nghề và đưa thanh niên sang làm việc tại nước ngoài, chính sách hỗ trợ tín dụng, cho vay vốn… Chính sách tạo việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, cácgiải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng lao động đó.

Nói cách khác, chính sách tạo việc làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động.Chính sách tạo việc làm cho thanh niên * Khái niệm chính sách tạo việc làm cho thanh niên Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành. Thanh niên thường được xem như một nhóm xã hội lứa tuổi hoặc một lát cắt chu kỳ sống của con người (tuổi thanh xuân), có sự khác nhau với nhóm đối tượng lứa tuổi khác vì có một số đặc điểm lý do lứa tuổi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Luật thanh niên được Quốc hội khóa XI thông qua có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007 quy định “Thanh niên là công dân của nước Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thì độ tuổi đoàn viên là từ đủ 16 tuổi (15 tuổi + 1 ngày) đến 30 tuổi.

Theo Điều lệ Hội LHTN Việt Nam, độ tuổi hội viên từ 16 tuổi đến 30 tuổi. Từ những khái niệm nêu ở trên, có thể hiểu nêu ra khái niệm chính sách việc làm cho thanh niên là: quan điểm, các quyết định chính trị có liên quan với nhau của Nhà nước về việc làm cho thanh niên với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm quyền có việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên. Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống. Chất lượng hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện chính sách.

Thực trạng năng lực thực hiện chính sách ở nước ta cho ta thấy, bên cạnh những ưu điểm còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Do đó nghiên cứu về vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách có ý nghĩa khoa học, thiết thực và cấp bách hiện nay. Từ những luận giải trên đây có thể đi đến một khái niệm cơ bản về thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên như sau: Thực hiện chính sách việc làm cho thanh niên là toàn bộ quá trình chính sách vào đời sống xã hội theo một quy trình, thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm giải quyết vấn đề việc làm đang diễn ra đối với thanh niên trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định. Hoạch định chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn.

Có chính sách đúng nếu không thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ