phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tại huyện Nghĩa Hƣng, tỉnh Nam Định Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp thực hiện chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Nghĩa Hƣng 5 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀMCHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản về chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Thanh niên nông thôn Khái niệm Thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội, giữ vị trí và vai trò hàng đầu trong dựng nƣớc và giữ nƣớc.Ăngghen đều coi thanh niên là một lực lƣợng cách mạng hùng hậu, có vai trò quan trọng trong cách mạng và xem xét vấn đề thanh niên luôn gắn bó với giai cấp công nhân và đảng tiên phong. Do những quy luật phát triển khách quan của xã hội, thanh niên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng trong việc kế thừa và phát triển những thành tựu của ngƣời đi trƣớc [7].
Ở nƣớc ta thanh niên đƣợc hiểu là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi [34].Thanh niên là lứa tuổi đã trƣởng thành, có đầy đủ tố chất của ngƣời lớn, là thời kỳ dồi dào về trí lực và thể lực. Do đó, thanh niên có đầy đủ những điều kiện cần thiết để tham gia hoạt động học tập, lao động, hoạt động chính trị xã hội đạt hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cống hiến thể lực và trí lực cho công cuộc đổi mới đất nƣớc, là lực lƣợng xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Song, do còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nên thanh niên cần đƣợc sự giúp đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trƣớc. Đào tạo, bồi dƣỡng và phát huy thanh niên là trách nhiệm của Nhà nƣớc, gia đình và toàn xãhội.
Tùy theo môi trƣờng hoạt động, đặc điểm nghề nghiệp ngƣời ta chia thanh niên thành các nhóm đối tƣợng khác nhau: TNNT, thanh niên công nhân, thanh niên trong lực lƣợng vũ trang. Mà ở đây, luận văn học viên nghiên cứu đối 6 Luan van tƣợng là TNNT.TNNT là thanh niên lớn lên ở nông thôn, có khả năng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn. Đặc điểm của thanh niên nông thôn Số lƣợng TNNT lớn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động cả nƣớc. Mỗi năm có khoảng 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bƣớc vào tuổi lao động.
Theo kết số liệu điều tra về lao động và việc làm của TNNT cho thấy cả nƣớc có trên 22,5 triệu thanh niên chiếm 26% dân số, 33,7% lực lƣợng lao động xã hội thì trong đó 75% là TNNT [44]. Sinh ra từ nông thôn nên tiếp xúc với nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, bộ phận TNNT đã qua đào tạo còn thấp.Kết quả khảo sát tình hình thanh niên của Viện nghiên cứu thanh niên cho thấy, 68,4% số TNNT chƣa qua đào tạo nghề[44]. Là lực lƣợng lao động trẻ, dồi dào các tiềm năng để phát triển, từ thể chất đến trí tuệ, luôn vƣơn tới cái mới, nhạy cảm và dễ thích ứng với đổi mới, có nhu cầu phong phú về tinh thần và văn hóa tinh thần, do đó, TNNT gắn liền với đức tin và niềm tin, dễ phục thiện và noi gƣơng những hình mẫu nhân cách mà họ ngƣỡng mộ. TNNT đang trong độ tuổi tự biểu hiện và tự khẳng định mình, đang bộc lộ cá tính để dần định hình là một cá nhân mang nhân cách.Cái tôi - cá thể có một bản ngã riêng, độc lập trong quá trình hình thành, có nhu cầu cao về lòng tự trọng và cần đƣợc ngƣời lớn tôn trọng.
Từ những đặc điểm đó nên khi làm việc trong các ngành nghề,nhóm lao động là TNNT có nét riêng biệt sau: - Có thể lực, khả năng thích ứng và mong muốn thăng tiến trong công việc cao đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp về bộ phận nhân lực trẻ khỏe, thậm chí trong các công việc dùng sức là chính. Trong thực tế ngƣời sử dụng lao động thƣờng không đánh giá ngƣời lao động thanh niên và lao động lớn tuổi theo cùng một cách. Đối với những công việc đòi hỏi kỹ năng và kinh 7 Luan van nghiệm thƣờng thì những ngƣời lao động đứng tuổi chiếm ƣu thế. Tuy nhiên, đối với những công việc đòi hỏi không chỉ kiến thức, khả năng thích ứng, mà còn các tố chất thuộc về sức trẻ thì TNNT lại chiếm ƣu thế, đặc biệt là TNNT đã qua đào tạo.
Đây là điểm mạnh để TNNT ổn định việc làm. - Khả năng hội nhập vào thị trƣờng lao động của TNNT khó khăn. TNNT chƣa qua đào tạo nên việc hội nhập vào thị trƣờng lao động không dễ dàng. Đối với TNNT đã qua đào tạo, hạn chế lớn nhất là cơ cấu lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trƣờng nghề quá mất cân đối mà quan hệ này thƣờng đƣợc nhắc tới là “thừa thầy-thiếu thợ”.Hạn chế thứ hai là kiến thức, kỹ năng có đƣợc từ trƣờng đào tạo có khoảng cách lớn đối với thực tiễn công việc đòi hỏi.Chính vì vậy, sau tuyển dụng, nhiều doanh nghiệp phải tổ chức đào t oại ngữ, khả năng giao tiếp, những khía cạnh này ít đƣợc đề cập hoặc đề cập không đầy đủ trong quá trình học tập.
- Tác phong lao động công nghiệp, ý thức kỷ luật lao động của TNNT còn yếu. Do xuất thân từ nông thôn, TNNT mang nặng tác phong của ngƣời lao động ở một nƣớc có nền kinh tế nông nghiệpnên ít có tác phong lao động công nghiệp, hạn chế trong hiểu biết về luật pháp lao động, ngỡ ngàng với những quy định, thủ tục giao kết hợp đồng lao động, chấp hành nội quy lao. Đặc biệt là đối với lao động phổ thông. - Tâm lý kén việc của TNNT.
Mặc dù phần lớn TNNT chƣa qua đào tạo nhƣng về mặt tâm lý hầu hết TNNT muốn làm việc tại các đô thị lớn, ít ngƣời muốn làm việc ở khu vực nông thôn.Một phần do khả năng tìm kiếm việc làm ở địa phƣơng thấp, đãi ngộ chƣa cao, chƣa thu hút đƣợc TNNT. Một phần do tâm lí mong muốn làm việc và sinh sống ở thành phố của thanh niên. - Một bộ phận TNNTcòn chƣa năng động trong việc tìm kiếm việc làm, các kênh tuyển dụng trực tiếp còn chƣa đƣợc TNNT sử dụng. Việc quá lệ thuộc 8 Luan van vào các trợ giúp bên ngoài, các mối quan hệ xã hội có thể là một trong những hạn chế lớn nhất của lao động thất nghiệp, chƣa có việc làm.
Tạo việc làm Việc làm ản thân cá nhân mỗi con ngƣời trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định. Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm. Nhờ có việc làm mà ngƣời lao động mới thực hiện đƣợc quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Theo Điều 9, chƣơng II (Việc làm) của Bộ Luật Lao động quy định việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm [6].
Trên thực tế, việc làm đƣợc thừa nhận dƣới 3 hình thức: + Làm công việc để nhận đƣợc tiền lƣơng, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. + Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tƣ liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. + Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý.
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu có nhiều cách phân loại việc làm, trong luận văn này, học viên phân loại nhƣ sau: - Ngƣời có việc làm là ngƣời từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân mà trong tuần lễ liền kề trƣớc thời điểm điều tra có thời 9 Luan van gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho ngƣời đƣợc coi là có việc làm. Thời gian làm việc bình thƣờng không quá 8 giờ trong 1 ngày và 48 giờ trong 1 tuần. Tuy khái niệm việc làm tƣơng đối rõ ràng nhƣng việc xác định ai là ngƣời có việc làm lại là một vấn đề phực tạp. Căn cứ vào chế độ làm việc, thời gian thực tế và nhu cầu làm thêm của ngƣời đƣợc xác định là có việc làm trong tuần lễ trƣớc điều tra, ngƣời có việc đƣợc chia thành hai nhóm: Ngƣời có việc làm đầy đủ và ngƣời thiếu việc làm.
+ Ngƣời có việc làm đầy đủlàngƣời làm việc đầy đủ thời gian quy định, có mức thu nhập và mức lƣơng tối thiểu trở lên và không có nhu cầu làm thêm [27, tr. + Ngƣời thiếu việc làm là ngƣời có việc làm nhƣng thời gian làm việc thấp hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm. Sự thiếu việc làm thể hiện ở hai dạng: 1) Có năng suất và thu nhập dƣới mức thu nhập tối thiểu, có nhu cầu làm thêm. 2) Thời gian làm việc dƣới mức quy định, có nhu cầu làm thêm [27, tr.
Nhƣ vậy thiếu việc làm đƣợc hiểu là trạng thái việc làm không tạo điều kiện cho ngƣời lao động sử dụng hết quỹ thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp hơn mức tiền lƣơng tối thiểu. Một nƣớc có điểm xuất phát càng thấp, trong quá trình phát triển vấn đề đảm bảo việc làm đầy đủ cho ngƣời lao động càng khó khăn và cấp thiết. Ở nƣớc ta hiện nay, tình trạng phổ biến là thiếu việc làm đầy đủ dƣới cả hai dạng, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và đây đang trở thành vấn đề nan giải mà Nhà nƣớc đang cố gắng khắc phục. - Ngƣời thất nghiệp Ngƣợc lại với cóviệc làm chính làthất nghiệp.Ngƣời thất nghiệp làngƣời đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trƣớc điều tra không có việc làm nhƣng có nhu cầu làmviệc và đăng ký tìm việc làm.