CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1.1 Nhu cầu của người lao động Mỗi người đều có những lý do khác nhau khi làm việc, nhưng nhìn chung đều làm việc bởi vì có thể đạt được điều mình cần từ công việc. Những thứ mà chúng ta đạt được ảnh hưởng tới tinh thần, động lực và chất lượng cuộc sống của chính chúng ta. Một số người làm việc vì sở thích và tình yêu, số khác làm việc để đạt được những ước nguyện cá nhân, có những làm người làm việc để cảm thấy rằng đang đóng góp một điều gì đó quan trọng, có ý nghĩa và lớn hơn cả bản thân của họ. Nhu cầu là tất cả những đòi hỏi hay mong ước xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhằm đạt được mục đích.
Nhu cầu là hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Theo Philip Kotler, chuyên gia marketing hàng đầu thế giới: Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp, nhu cầu ăn uống, nhu cầu sự ấm áp và an toàn, nhu cầu về tài sản,… khi nhận thức được nhu cầu con người sẽ tìm cách làm gì đó để thỏa mãn nhu cầu đó.
Nhu cầu luôn luôn tồn tại trong mỗi con người và là một phạm trù tồn tại vĩnh viễn trong mọi chế độ xã hội. Con người thường có xu hướng tìm cách thỏa mãn nhu cầu khi nó xuất hiện. Nhưng không có nhu cầu nào được Luan van 7 thỏa mãn hoàn toàn mà chỉ thỏa mãn đến một mức độ nào đó. Khi một nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ xuất hiện một nhu cầu mới và lại thúc đẩy con người hành động để thỏa mãn nhu cầu đó.
Tuy nhiên, nhu cầu không phải là động lực trực tiếp thôi thúc hành động của con người mà chính lợi ích mới là động lực chính thúc đẩy còn người. Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau. Nhu cầu là cơ sở, tiền đề của lợi ích. Nhu cầu là nội dung còn lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu.
Bên cạnh đó, lợi ích có quan hệ rất chặt chẽ với động lực làm việc. Khi nhu cầu xuất hiện con người sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt được. Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng lớn. Lợi ích đạt được càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh.
Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chưa được rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con người hành động để rút ngắn nó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt được hiệu quả sản xuất cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức thì vấn đề tạo động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động.
Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Thực hiện công tác tạo động lực tốt sẽ làm dịu đi những căng thẳng không cần thiết, tăng cường sự hấp dẫn của tiền lương, tiền thưởng… Người lao động hăng hái làm việc, gắn bó với tổ chức, sẵn sàng cống hiến hết mình vì tổ chức.2 Động cơ thúc đẩy người lao động a. Khái niệm Động cơ là mục tiêu chủ quan của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đặt ra. Động cơ lao động biểu thị thái độ chủ quan của con người đối với hành động của mình, phản ánh các mục tiêu đặt ra một cách có ý thức, động cơ được xác định và giải thích cho hành vi.
Động cơ ám chỉ những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định. Động cơ làm ảnh hưởng tới hiệu suất công việc của nhân viên, vì vậy, một phần công việc của nhà quản trị là phải hướng những động cơ đó vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. [6, tr 201] Khái niệm động cơ là một khái niệm trừu tượng và rất khó xác định vì: - Thường bị che dấu bởi bản chất thật và nhiều lý do khác nhau như: yếu tố tâm lý, quan điểm xã hội, xuất thân, nhân sinh quan của mỗi người… - Động cơ luôn biến đổi theo thời gian tại mỗi thời điểm của con người sẽ có những nhu cầu và động cơ khác nhau. Trừ những nhu cầu sinh lý thì nói chung nhu cầu phụ thuộc phần lớn vào môi trường hoạt động của con người.
Vì vậy, là nhà quản trị phải biết chính xác các động cơ số một và biết cải biến những động cơ đó đối với từng lao động cụ thể sao cho phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng đáp ứng của tổ chức. Trong quản lý, các nhà quản trị cần phải nghiên cứu tìm hiểu về động cơ của người lao động để có biện pháp kích thích tạo động lực, phát huy tối đa khả năng của các cá nhân và các nhóm nhằm đạt được mục tiêu chung của cả tổ chức, đồng thời đạt được mục tiêu của từng người lao động. Phân loại động cơ - Dựa vào nhu cầu: + Căn cứ vào tính chất: nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội; Luan van 9 + Căn cứ vào đối tượng thoả mãn: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất như ăn uống, mua sắm quần áo, xây nhà cửa,… Nhu cầu tinh thần như tình yêu, giải trí,… + Căn cứ vào trình độ thỏa mãn nhu cầu: nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao.
Nhu cầu bậc thấp là toàn bộ các nhu cầu trên nhưng mức độ thỏa mãn rất thấp. Như nhu cầu ăn no, mặc ấm,… Nhu cầu bậc cao thì đòi hỏi sự thỏa mãn rất cao như ăn ngon, mặc đẹp,… - Dựa vào đặc điểm tâm lý của người lao động: Có nhiều cách phân loại người lao động, thông thường thì gồm hai loại là: người lao động chân tay và người lao động trí óc. + Người lao động chân tay: thường là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, họ phải tiêu hao sức lực của mình là chủ yếu và tiêu hao một phần trí não. Họ thường có khuynh hướng chỉ quan tâm đến các những vấn đề của bản thân họ, của gia đình họ trong những khoảng thời gian ngắn, họ thường không dành thời gian cho học tập, chủ yếu chỉ phát triển nâng cao kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp.
Động cơ làm việc của họ bao gồm: Thứ nhất, động cơ kinh tế: đối với người lao động chân tay, thu nhập của họ thường thấp và thường được dùng để trang trải cuộc sống. Thứ hai, động cơ sợ: người lao động phải chấp hành tốt các nội quy của đơn vị đề ra, nếu không thu nhập của họ sẽ bị ảnh hưởng, không có được công việc tốt hoặc bị sa thải. Vì vậy, họ luôn cố gắng để làm tốt công việc của mình và hi vọng sẽ có một công việc tốt hơn. Thứ ba, động cơ thay đổi và vươn lên: nhằm cải thiện được vị thế công tác hiện tại của mình.
Động cơ này còn thể hiện ở mong muốn thay đổi công việc từ lao động chân tay sang lao động trí óc hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội. Luan van 10 Thứ tư, động cơ trách nhiệm, ý thức: nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động đối với công việc và phát động phong trào đó trong toàn đơn vị sẽ tạo bầu không khí làm việc tích cực, hiệu quả và lôi kéo được các thành viên có ý thức trách nhiệm chưa cao tham gia. + Người lao động trí óc: họ chủ yếu làm việc bằng sự vận động của trí óc, có điều kiện tiếp cận tốt với trí thức nhân loại về nhiều lĩnh vực. Họ thường đòi hỏi cao về sự đánh giá bản thân, đòi hỏi sự dân chủ, bình đẳng cao trong xã hội.
Động cơ làm việc của họ bao gồm: * Động cơ kinh tế: thu nhập vẫn là động cơ cơ bản của người lao động tay chân và lao động trí óc. Họ làm việc trước hết vì mong muốn có được cuộc sống vật chất sung túc và tiện nghi. * Động cơ khẳng định bản thân: người lao động trí óc làm việc để thực hiện khát vọng tìm tòi, sáng tạo, khả năng chuyên môn. Họ thường làm việc để có được một vị thế trong xã hội, để được coi trọng.
Đây là một động cơ chính, mãnh liệt của họ. Các nhà lãnh đạo phải tìm hiểu và có cách tác động phù hợp để kích thích khả năng làm việc, khả năng sáng tạo của những người lao động trí óc. * Động cơ lương tâm, trách nhiệm: Động cơ này xuất phát từ tâm huyết nghề nghiệp, làm việc vì sự phát triển của ngành, của lĩnh vực và của đất nước. Mỗi con người, khi làm bất cứ việc gì ngoài những mục đích riêng của bản thân thì vì những mục đích chung rộng lớn hơn, cao cả hơn.3 Động lực thúc đẩy làm việc của người lao động a.
Khái niệm động lực Động lực là sự khao khát tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường sự nỗ lực trong công việc để đạt được những mục tiêu của cá nhân và mục tiêu chung của cả tổ chức. Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Với những vị trí, Luan van 11 địa vị xã hội khác nhau thì con người cũng có những đặc điểm tâm lý khác nhau, những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì vậy động lực thúc đẩy làm việc của mỗi người khác nhau, trên cơ sở đó nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau đến mỗi người lao động.
Động lực thúc đẩy người lao động là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến. Động lực hình thành bởi nhu cầu và lợi ích. Động lực làm việc nó gắn liền với một công việc cụ thể, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể.