LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị trường các DN phải tự huy động các nguồn vốn để đáp ứng các nhu cầu vốn trong kinh doanh của mình. Nguồn vốn kinh doanh của các DN có nhiều loại, giữa chúng có sự khác nhau về đặc điểm sở hữu, phạm vi huy động và thời gian huy động, về chi phí sử dụng vốn và những ưu nhược điểm riêng của chúng. Vì thế huy động nguồn vốn nào, khi nào thì huy động, chi phí huy động và sử dụng vốn ra sao, việc huy động các nguồn vốn có ảnh hưởng gì đến mức độ rủi ro và khả năng sinh lời của DN, nguồn vốn đã huy động được nên phân phối, tổ chức sử dụng như thế nào để đem lại lợi ích cao nhất luôn là vấn đề được các DN quan tâm giải quyết trong quá trình huy động và phân bổ sử dụng nguồn vốn.
Chính sách tài trợ là một trong ba phần quan trọng của chính sách tài chính (chính sách đầu tư, chính sách tài trợ và chính sách cổ tức) của các DN nói chung và của các CTCP nói riêng. Trong đó, CSTT đảm bảo cho việc huy động và tài trợ cho nhu cầu đầu tư nhằm hình thành các loại tài sản trong DN. Chính sách tài trợ hình thành trên cơ sở mối quan hệ biện chứng với các chính sách còn lại của chính sách tài chính trong DN. Trong thực tế, các công ty xây dựng CTGT niêm yết ở Việt Nam là một bộ phận DN có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Với trọng trách chuyên biệt, các công ty xây dựng CTGT niêm yết phải thường xuyên quan tâm tới CSTT, nhờ đó thông qua CSTT có thể đáp ứng được nhu cầu tài trợ của mình, đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình hoạt động và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Tuy vậy, tình trạng thiếu vốn tràn lan, quy mô nguồn tài trợ còn hạn chế, cũng như cơ cấu nguồn tài trợ vốn còn nhiều điểm bất hợp lý, mục tiêu cũng như chiến lược kinh doanh của DN chưa được hiện thực hóa, điều đó đang chứng tỏ tính thiếu hoàn thiện của CSTT ở các DN. Đứng trước áp lực vị trí “Tiên phong” của việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trước những 2 thay đổi khôn lường của môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế, trước áp lực của tình trạng bất ổn về tài chính tại hàng loạt DN, hoàn thiện CSTT lại đòi hỏi thiết yếu đối với các công ty xây dựng CTGT niêm yết ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu lựa chọn đề tài nghiên cứu, về thực tiễn tác giả nhận thấy phần lớn các DN xây dựng công trình giao thông thường chỉ đưa ra kế hoạch kinh doanh ngắn hạn, với những dự kiến về doanh thu và lợi nhuận trong tương lai mà chưa xây dựng một kế hoạch tài chính dài hạn trên cơ sở việc dự báo về những viễn cảnh mà DN có thể đối mặt trong tương lai.
Chính vì vậy, việc thực hiện chính sách tài trợ trong các DN này không được thực hiện một cách bài bản và khoa học, dẫn tới các DN không có một định hướng cụ thể về phương án huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của DN trong quá trình tăng trưởng, đặc biệt là trong dài hạn. Việc không xây dựng một kế hoạch tài chính dài hạn cụ thể khiến các DN sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền trong tương lai, đặc biệt khi đối mặt với những viễn cảnh xấu nhất, khi đó DN có thể mất khả năng thanh toán và không thể huy động được các nguồn tài trợ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn dẫn tới phá sản. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách tài trợ trong DN và việc phân bổ sử dụng nguồn vốn của các DN này sao cho hợp lý, hiệu quả đang trở thành vấn đề thời sự, cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề: “Hoàn thiện chính sách tài trợ của các công ty xây dựng công trình giao thông niêm yết ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề còn tồn tại là phù hợp, đề tài có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài CSTT là một trong ba trụ cột trong chính sách tài chính của DN, vì vậy đã có một số công trình nghiên cứu liên quan cả về lý luận và thực tiễn đến nội dung này. Có thể nêu ra một số công trình, đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước như sau: 3 2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc: - Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Tú (Đại học Kinh tế quốc dân, 2006) “Đổi mới cơ cấu nguồn vốn của các DN Nhà nước Việt Nam hiện nay”. Luận án đã đánh giá được thực trạng về cơ cấu vốn với mẫu được chọn là 375 DN Nhà nước thuộc các lĩnh vực khác nhau trong giai đoạn 2000- 2005.
Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp định lượng (sử dụng các mô hình kinh tế lượng) và các giải pháp định tính để đổi mới cơ cấu vốn của DN Nhà nước Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đã ứng dựng xây dựng mô hình cơ cấu vốn tối ưu cho một DN điển hình là: Tổng công ty xây dựng CTGT 1 (CIENCO 1). Với nhiều điểm mới của luận án đã được tác giả trình bày, tuy nhiên, luận án còn có nhiều khoảng trống nghiên cứu khi đề cập tới nguồn vốn đó là (1) Luận án chưa đề cập tới việc sử dụng các công cụ tài trợ một cách chi tiết cụ thể để hình thành nên cơ cấu vốn tối ưu (2) Tác dụng của các nguồn tài trợ và việc sử dụng từng nguồn tài trợ trong những trường hợp cụ thể gắn với thực trạng tài chính của DN (3) Chưa đánh giá được tầm quan trọng, vai trò của nguồn vốn nội sinh trong DN, cũng như việc xác định mức độ sử dụng nguồn tài trợ này cho phù hợp với tình hình tài chính của DN. - Luận án Tiến sĩ của tác giả Đoàn Hương Quỳnh (Học viện Tài chính, 2009) “Giải pháp tái cơ cấu nguồn vốn của DN Nhà nước trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”.
Luận án đã nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, chỉ ra tác động của một số nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của các DN Nhà nước, từ đó đưa ra các giải pháp tài chính nhằm tái cơ cấu nguồn vốn của các DN Nhà nước ở Việt Nam. Luận án cũng là cơ sở để mở ra các nghiên cứu mới về cơ cấu nguồn vốn trong các DN thuộc loại hình CTCP niêm yết, nhằm hoàn thiện các nghiên cứu về nguồn vốn trong DN khi tiến trình cổ phần hóa DN diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay. - Luận án Tiến sĩ kinh tế của Dương Thị Hồng Vân (Kinh tế quốc dân, năm 2014) “Nghiên cứu các nhân tố tác động tới cơ cấu vốn của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Luận án sử dụng mô hình kinh tế 4 lượng đánh giá tác động của các yếu tố tới cơ cấu vốn (tổng nợ vay/tổng tài sản, nợ dài hạn/tổng tài sản, nợ ngắn hạn/tổng tài sản) trên cơ sở dữ liệu là giá trị sổ sách của 193 DN niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Tuy vậy, viêc sử dụng số liệu tổng hợp của các DN thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nên luận án chưa nêu được cách tiếp cận cụ thể đối với các DN thuộc nhóm ngành, lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, cách tiếp cận nguồn vốn trong DN ở góc độ là các nhân tố tác động tới cơ cấu nguồn vốn cũng tạo ra khoảng trống khi nghiên cứu tới nguồn vốn trong DN, đặc biệt là CSTT trong DN nói chung và trong DN xây dựng CTGT nói riêng. - Luận án tiến sĩ kinh tế của Dương Thị Thúy Hà (Học viện tài chính, năm 2016) “Cơ cấu nguồn vốn của các DN niêm yết trong ngành dược phẩm ở Việt Nam”. Với số liệu của 13 DN dược phẩm niêm yết trong giai đoạn 2009 - 2013 tác giả đã làm rõ được thực trạng về cơ cấu vốn của các DN trong ngành dược phẩm, đánh giá tác động của nó tới chi phí sử dụng vốn, rủi ro tài chính, ROE, dòng tiền của DN.
Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra được các nhận xét và giải pháp hoàn thiện cơ cấu vốn của các DN trong lĩnh vực này. Bên cạnh những kết quả đạt được, luận án còn chưa nghiên cứu sâu các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn trong lĩnh vực này một cách cụ thể hóa bằng các mô hình. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chưa đi sâu vào việc đánh giá việc sử dụng các công cụ huy động để hình thành cơ cấu nguồn vốn trong DN một cách cụ thể. - Luận án Tiến sĩ kinh tế của Vũ Thị Ngọc Lan (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2014) “Tái cấu trúc vốn tại tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam”.
Là một trong các nghiên cứu mới về cấu trúc vốn trong giai đoạn hiện nay, luận án đã tổng hợp và đưa ra cách tiếp cận mới, đặc biệt là cấu trúc vốn trong tập đoàn có sở hữu Nhà nước. Với mẫu nghiên cứu là 151 doanh nghiêp thuộc tập đoàn dầu khí quốc gia giai đoạn 2007 – 2012. Tác giả đã đánh giá được thực trạng về cấu trúc vốn tại tập đoàn bằng cả nghiên cứu định tính và 5 định lượng, từ đó tác giả kiến nghị các giải pháp huy động vốn phù hợp thực trạng tài chính của tập đoàn dầu khí quốc giá Việt Nam. Trong thực tế, việc nghiên cứu cấu trúc vốn với mẫu là tập đoàn sẽ có những điểm khác biệt so với các DN niêm yết, đặc biệt là trong lĩnh vực khai thác dầu khí so với lĩnh vực xây dựng CTGT.
Ngoài ra, luận án cũng chưa nghiên cứu sự thay đổi của cấu trúc vốn dưới tác động của các công cụ tài trợ cụ thể để đưa ra giải pháp phù hợp nhất dưới góc nhìn của CSTT trong hoạt động tái cấu trúc vốn. - Luận án Tiến sĩ kinh tế của Lê Hoàng Vinh (Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014) “Cơ cấu nguồn vốn và rủi ro tài chính trong DN”.