Phần mở đầu. Phần này trình bày lý do nghiên cứu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Phần 2: Khuôn khổ lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Phần này trình bày trình bày khuôn khổ lý thuyết mà bài nghiên cứu dựa vào.
Bên cạnh đó sơ lược các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Phần 3: Phương pháp nghiên cứu. Phần này trình bày về dữ liệu nghiên cứu, mô hình sử dụng và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu.
Phần này trình bày kết quả hồi quy đạt được, phân tích tác động các cú sốc chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ của các nước khu vực Asean giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2015. Phần 5: Kết luận các kết quả chính tìm thấy từ bài nghiên cứu. Trình bày những hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mới.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Nghiên cứu tác động của cú sốc dương chi tiêu chính phủ đến chính sách tài khoá và cú sốc dương lãi suất đến chính sách tiền tệ các nước khu vực Asean giai đoạn 2001 – 2015, cụ thể là sáu nền kinh tế đại diện Việt Nam, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Singapore, Malaysia, giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định về kinh tế và chính trị cho quốc gia của mình. Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ được xem như là các công cụ dùng để ổn định nền kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia.
Do đó, việc phối hợp hiệu quả hai chính sách này là cần thiết để đạt được mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƢỚC ĐÂY 2.1 Khuôn khổ lý thuyết chính sách tài khóa Chính sách tài khóa trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động đến nền kinh tế. Các trường phái kinh tế học Keynes cho rằng chính sách tài khóa có hiệu quả to lớn trong chống chu kỳ kinh tế.
Sử dụng mô hình IS - LM để phân tích cho thấy chính sách tài khóa phát huy tác dụng thông qua sự dịch chuyển của đường IS và John Maynard Keynes đề cao chính sách tài khóa thông qua công cụ chi tiêu chính phủ. Tuy nhiên, phân tích IS – LM cho thấy chính sách tài khóa phát huy tác dụng hoàn toàn khi đường IS dốc xuống phía phải cắt đường LM ở đoạn nằm ngang và phát huy tác dụng không hoàn toàn khi đường IS cắt đường LM ở đoạn dốc lên phía phải. Còn khi đường IS cắt đường LM ở đoạn thẳng đứng, chính sách tài khóa không hề có tác dụng. Thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, đường IS sẽ dịch song song sang phía phải và khi thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt thì đường IS dịch chuyển song song qua trái.
Trong khi đó, Robert Barro cho rằng, nhà nước thực hiện chính sách tài khóa mở rộng bằng cách tăng chi tiêu chính phủ, nhưng để có nguồn tài chính cho các khoản chi tiêu đó thì nhà nước lại phát hành công trái và trái phiếu. Do vậy, trong tương lai nhà nước sẽ tăng thuế để có tiền trả nợ nên sẽ giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm hôm nay để tương lai có tiền nộp thuế. Như thế, tuy nhà nước tăng tiêu dùng của mình, nhưng lại làm giảm tiêu dùng cá nhân, nên hiệu quả của chính sách tài khóa mở rộng sẽ không cao như nhà nước mong đợi. Ngoài việc phân tích chính sách tài khóa theo mô hình IS – LM của trường phái kinh tế học Keyness trong nền kinh tế đóng thì Robert Mundell và John Marcus Fleming đã phát triển mô hình này dựa trên các lý luận của trường phái Keyness truyền thống bằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 cách sử dụng mô hình IS – LM để phân tích chính sách tài khóa trong nền kinh tế mở cửa.
Dù rằng mô hình lý thuyết Mundell Fleming ra đời đã lâu nhưng mô hình này vẫn giữ nguyên được vai trò quan trọng trong việc phân tích các chính sách của nền kinh tế vĩ mô.1 Thị trƣờng hàng hóa và đƣờng IS 2.1 Khái niệm Đường IS phản ánh những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất (i) với sản lượng (Y) mà tại đó thị trường hàng hóa cân bằng (Y = AD). Thị trường hàng hóa đạt trạng thái cân bằng khi tổng cầu bằng thu nhập thực tế.2 Sự hình thành đƣờng IS Hàm tổng cầu hàng hoá có dạng: AD = C + I + G + NX Trong đó, AD là tổng cầu, C là chi tiêu hộ gia đình, I là chi tiêu đầu tư có kế hoạch, NX là xuất khẩu ròng (NX = Xuất khẩu – Nhập khẩu) Tại mức lãi suất i1: AD1 = C + I1 +G + NX1 Tại mức lãi suất i2: AD2 = C + I2 + G + NX2 Tại mức lãi suất thấp là i1(i1<i2) thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch I1 là cao nhất và xuất khẩu ròng NX1, do vậy hàm tổng cầu cao nhất là AD1 tương ứng với mức sản lượng Y1. Nếu lãi suất tăng lên i2 thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch giảm xuống I2 và xuất khẩu ròng NX2, do vậy hàm tổng cầu là AD2, tương ứng với mức sản lượng Y2. Đường nối liền hai điểm A (i1, Y1) và B (i2, Y2) là đường IS, chỉ ra sự kết hợp của lãi suất và tổng sản lượng cân bằng.
Do vậy, tổng sản phẩm được sản xuất ra bằng tổng cầu. Đường IS nằm nghiêng dốc xuống chỉ ra rằng với mức lãi suất cao hơn đưa đến kết quả là chi đầu tư và xuất khẩu ròng thấp hơn, từ đó sản lượng cân bằng thấp hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 AD2 = C + I2 + G + NX2 AD1 = C + I1 + G + NX1 450 Y2 Y1 i2 B D A i1 C IS Y2 Y1 Hình 2.1 Sự dịch hình thành đƣờng IS Đường IS vạch ra những điểm mà theo đó tổng lượng hàng hóa sản xuất ra bằng với tổng lượng hàng hóa được yêu cầu. Đường IS tập hợp tất cả những điểm mà theo đó thị trường hàng hóa là cân bằng.
Với mỗi mức lãi suất đã cho, đường IS cho biết tổng sản phẩm cần để đạt được trên thị trường hàng hóa. Vì lãi suất tăng làm cho chi đầu tư và xuất khẩu ròng giảm, điều này làm giảm tổng cầu. Đường cong IS là một khái niệm hữu dụng, bởi vì sản phẩm có xu hướng vận động đến các điểm trên đường cong để thỏa mãn sự thăng bằng của thị trường hàng hóa. Nếu nền kinh tế được đặt tại vùng bên phải của đường IS như tại điểm D thì có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 một sự cung hàng hóa quá mức.
Phần cung hàng hóa vượt quá này làm dư hàng tồn kho, làm cho sản phẩm tụt xuống theo đường cong IS. Sự tụt xuống chấm dứt khi sản phẩm đạt mức thăng bằng trên đường cong IS. Ngược lại, nều nền kinh tế nằm tại vùng bên trái của đường cong IS như tại điểm C thì cầu hàng hóa quá mức đưa đến kết quả là một sự giảm xuống không được kế hoạch trong tồn kho làm cho sản phẩm tăng theo đường cong IS và chất dứt khi tổng sản phẩm đạt được mức cân bằng trên đường cong IS.3 Sự dịch chuyển đƣờng IS Đường IS dịch chuyển bất kỳ lúc nào khi có sự thay đổi của các nhân tố trong tổng cầu và do vậy ảnh hưởng đến mức sản lượng cân bằng. Ở góc độ bài nghiên cứu xem xét sự thay đổi trong chi tiêu chính phủ, cụ thể là một sự tăng lên trong chi tiêu chính phủ sẽ làm cho hàm số tổng cầu tại bất kỳ lãi suất nào đã cho di chuyển lên trên.
Do vậy, mức thăng bằng của tổng sản phẩm tăng với bất kỳ lãi suất đã cho và đường IS dịch chuyển qua phải. Ngược lại, một sự giảm xuống trong chi tiêu chính phủ di chuyển hàm số tổng cầu xuống và mức thăng bằng của sản phẩm giảm xuống, di chuyển đường IS sang trái.2 Sự dịch chuyển đƣờng IS i2 i1 i1 i2 IS2 IS1 IS1 IS2 0 Y1 Y2 0 Y2 Y1 a. Tăng chi tiêu chính phủ b. Giảm chi tiêu chính phủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Tác động của chính sách tài khóa đến nền kinh tế Chính sách tài khóa và nền kinh tế có mối quan hệ khăng khít.
Chính sách tài khóa là công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế, ngược lại nền kinh tế lại là môi trường chứa đựng các yếu tố ảnh hưởng đến thu chi ngân sách nhà nước. Một chính sách tài khóa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của quốc gia trong từng giai đoạn thì có thể nâng cao tác dụng từ đó phát triển nền kinh tế xã hội một cách tốt hơn. Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô thì chính sách tài khóa với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô ngắn hạn bao gồm: ổn định sản lượng quốc gia, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát thấp trong dài hạn, đồng thời đảm bảo công bằng trong phần phối thu nhập quốc dân. Tất cả các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản này về nguyên tắc đều đồng thời chịu sự điều tiết của nền kinh tế thị trường, lại vừa có thể chịu sự tác động có chủ đích, có định hướng của Nhà nước thông qua các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước.
Bằng các công cụ chính sách liên quan đến ngân sách nhà nước, Nhà nước có thể phối hợp sự điều tiết của thị trường và chủ đích của mình để đưa nền kinh tế thị trường về trạng thái mong muốn. Ở giai đoạn suy thoái kinh tế nền kinh tế nằm cách xa trạng thái toàn dụng được đặc trưng bởi việc thu hẹp sản xuất và tỷ lệ việc làm, trong khi tốc độ lạm phát có xu hướng giảm đi. Khi đó, Nhà nước thực hiện chính sách tài khóa mở rộng bằng cách giảm thuế hoặc tăng chi tiêu chính phủ, hoặc vừa tăng chi tiêu chính phủ vừa giảm thuế là biện pháp hữu hiệu và khả thi nhằm làm tăng GDP thực tế, tăng tỷ lệ việc làm. Ngược lại, trong giai đoạn kinh tế phát triển nóng, lạm phát tăng cao do dư thừa tổng cầu được đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát tăng cao, Nhà nước cần thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt bao gồm: giảm chi ngân sách nhà nước hoặc tăng thu ngân sách từ thuế, hoặc tiến hành đồng thời cả hai biện pháp này.