Tổng quan luận án

Chế độ ruộng đất dưới thời phong kiến Việt Nam là cơ sở kinh tế và nền tảng của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, đồng thời là nhân tố chi phối đời sống kinh tế - xã hội. Trong nửa đầu thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, chế độ sở hữu ruộng đất diễn ra nhiều biến đổi phức tạp, trong đó chính sách quân điền năm 1839 do vua Minh Mệnh ban hành tại tỉnh Bình Định là sự kiện can thiệp trực tiếp của nhà nước vào quyền tư hữu ruộng đất. Kho tư liệu địa bạ triều Nguyễn lưu giữ tại Cục Lưu trữ Nhà nước gồm 10.884 tập, trong đó Bình Định là địa phương có số lượng địa bạ lớn và là tỉnh duy nhất trong cả nước có hai bộ địa bạ được lập trên quy mô toàn tỉnh ở hai thời điểm khác nhau: năm Gia Long thứ 14 (1815) và năm Minh Mệnh thứ 20 (1839). Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là các công trình trước đây chủ yếu dựa vào chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn, chưa khai thác sâu nguồn tư liệu định lượng chi tiết về phần tư hữu trong địa bạ để giải thích nguyên nhân, diễn trình và hệ quả thực tế của chính sách quân điền năm 1839.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

  1. Khảo cứu và xử lý nguồn tư liệu địa bạ tỉnh Bình Định qua hai thời điểm năm 1815 và năm 1839, kết hợp tư liệu thư tịch cổ và khảo sát điền dã nhằm tái hiện cơ cấu sở hữu ruộng đất tại địa phương trước và sau cải cách.
  2. Làm rõ cách thức tổ chức thực hiện chủ trương quân điền năm 1839, phương thức sung công chiết cấp một nửa ruộng tư thành ruộng công và quy chế phân chia ruộng công (lương điền, khẩu phần) cho quan lại, binh lính và dân đinh.
  3. Giải quyết câu hỏi nghiên cứu: Thực chất mục đích của Minh Mệnh khi thực hiện chính sách quân điền là gì? Vì sao chính sách này chỉ áp dụng duy nhất tại Bình Định mà không mở rộng ra toàn quốc? Chính sách đem lại quyền lợi cho nhà nước hay cho người dân địa phương?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chính sách quân điền năm 1839 của triều Nguyễn, cơ cấu sở hữu ruộng đất công - tư, quy mô sở hữu của các tầng lớp xã hội (chủ tư nhân, chức sắc, chủ nữ, phụ canh, nhóm dòng họ) tại Bình Định.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Bình Định (gồm hai phủ Hoài Nhơn và An Nhơn thời Nguyễn), đi sâu vào mẫu khảo cứu gồm 24 thôn/ấp đại diện.
  • Phạm vi thời gian: Nửa đầu thế kỷ XIX, trọng tâm là giai đoạn từ năm 1815 (thời điểm lập địa bạ Gia Long) đến năm 1839 (thời điểm thực hiện quân điền và lập địa bạ Minh Mệnh).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chế độ ruộng đất triều Nguyễn và chính sách quân điền năm 1839:

  • R. Souvignet (1900): Công bố bài báo trên Tạp chí Đông Dương, cung cấp các số liệu về ruộng đất Bình Định năm 1839 và năm 1900, cho rằng nguyên nhân ruộng tư chiếm ưu thế tuyệt đối tại Bình Định là do hậu quả của phong trào Tây Sơn đã hủy bỏ sổ sách và biến ruộng công thành ruộng tư.
  • Nguyễn Thiệu Lâu (1951): Đăng chuyên khảo "Cải cách ruộng đất năm 1839 tại Bình Định" trên tập san Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (BEFEO), sử dụng bản dịch Quốc triều chính biên toát yếu (1923), đưa ra hai giả thiết về sự chênh lệch ruộng công - tư tại Bình Định (do phong trào Tây Sơn hoặc tàn dư chế độ ruộng đất Chăm), đồng thời chỉ ra sự hạn hẹp của ruộng công là nguyên cớ trực tiếp dẫn đến cải cách.
  • Các công trình nghiên cứu lịch sử trong nước: Tác phẩm của Vũ Huy Phúc (1979) về chế độ ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX, Trần Văn Giàu về sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858, Nguyễn Phan Quang về lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX, Vũ Văn Quân (2001) về chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp nửa đầu thế kỷ XIX. Các tác giả khai thác Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, coi quân điền 1839 là một cuộc thử nghiệm nhằm củng cố ruộng đất công và bảo đảm tô thuế nhưng không thành công để nhân rộng.
  • Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu (từ năm 1992): Tiến hành khảo cứu tổng thể kho địa bạ Bình Định và Nam Bộ, công bố các chỉ số tổng quát ở phần đầu địa bạ (đơn vị hành chính, tứ cận, tổng diện tích công tư điền thổ, các hạng đất). Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích phần sở hữu của từng chủ tư nhân (chiếm hơn 80% dung lượng văn bản địa bạ).
  • Phan Phương Thảo (1997): Khảo sát bước đầu cặp địa bạ thôn Kiên Mỹ (huyện Tây Sơn) lập năm 1815 và 1839, mở ra hướng tiếp cận đối chiếu vi mô.

Khoảng trống học thuật mà luận án giải quyết: Các công trình trước đây chưa khai thác triệt để phần kê khai chi tiết từng chủ sở hữu tư nhân trong địa bạ, dẫn đến nhận định chưa chính xác về cơ cấu giai tầng (như giả định cho rằng có sự tập trung ruộng đất vào tay đại địa chủ tại Bình Định). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo cứu toàn diện 24 cặp địa bạ, bóc tách từng thửa ruộng và từng chủ sở hữu để làm rõ bản chất kinh tế - xã hội của chính sách quân điền năm 1839.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trong xã hội nông nghiệp truyền thống, xem xét sự tương tác và đấu tranh giữa sở hữu nhà nước (công hữu) và sở hữu tư nhân (tư hữu) trong khuôn khổ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền phương Đông.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lịch sử học, địa lý học lịch sử, dân tộc học và xã hội học, trọng tâm là phương pháp phân tích định lượng:

  • Phương pháp thống kê chọn mẫu: Trong tổng số 1.207 địa bạ Bình Định hiện còn (gồm 559 địa bạ năm 1815 và 648 địa bạ năm 1839), có 535 cặp địa bạ tương ứng hoàn chỉnh giữa hai thời điểm. Tác giả chọn mẫu 24 cặp địa bạ của 24 thôn/ấp (chiếm tỷ lệ xấp xỉ 5% tổng số địa bạ toàn tỉnh), đại diện cho các vùng địa lý, kinh tế khác nhau của hai phủ Hoài Nhơn và An Nhơn.
  • Phương pháp định lượng và xử lý dữ liệu: Toàn bộ thông tin về diện tích, đẳng hạng ruộng đất, danh tính chủ sở hữu, giới tính (nam, nữ), diện cư trú (chính canh, phụ canh), quan hệ dòng họ và các chủ trùng tên qua hai thời kỳ được mã hóa và xử lý trên máy vi tính, biểu diễn qua các bảng thống kê và biểu đồ so sánh.
  • Phương pháp điền dã lịch sử: Thực hiện qua hai đợt khảo sát thực địa vào mùa hè năm 1997 và tháng 4 năm 2002 tại các địa bàn nghiên cứu ở Bình Định; thu thập tư liệu văn tự dân gian (gia phả, văn khế mua bán, phân thư chia gia tài), phỏng vấn nhân chứng cao tuổi và khảo sát dấu tích ranh giới ruộng đất sau phân chia ("sung công chiết cấp", "nhất bán vi công, nhất bán vi tư").

Nguồn tư liệu sử dụng gồm:

  • 24 cặp địa bạ (48 tập văn bản Hán - Nôm) lập năm Gia Long thứ 14 (1815) và Minh Mệnh thứ 20 (1839) lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
  • Thư tịch cổ triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Quốc triều chính biên toát yếu, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt truyện, Đồng Khánh địa dư chí lược.
  • Tư liệu khảo sát thực địa và tư liệu lưu trữ của Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định, Bảo tàng Quang Trung.
Tiêu chí Địa bạ Gia Long 14 (1815) Địa bạ Minh Mệnh 20 (1839)
Đơn vị hành chính thống kê Trấn Bình Định (đơn vị ấp) Tỉnh Bình Định (đơn vị thôn)
Tổng số địa bạ hiện còn 559 địa bạ 648 địa bạ
Số lượng mẫu khảo cứu chuyên sâu 24 địa bạ ấp 24 địa bạ thôn tương ứng
Đặc trưng cơ cấu ruộng đất Ruộng tư chiếm trên 91%; không có công điền sở tại trong mẫu Ruộng công tăng lên xấp xỉ 50%; ruộng tư giảm tương ứng 50%

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình sở hữu ruộng đất nửa đầu thế kỷ XIX và chủ trương quân điền năm 1839 ở Bình Định

Chương 1 khái quát bối cảnh lịch sử xác lập vương triều Nguyễn năm 1802 và thực trạng chế độ ruộng đất trong cả nước nửa đầu thế kỷ XIX. Nhà Nguyễn thực hiện thống nhất quản lý điền thổ thông qua việc đo đạc, lập địa bạ trên phạm vi toàn quốc (Bắc Hà hoàn thành năm 1805, các tỉnh miền Trung từ năm 1810-1815, ba trấn Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An năm 1831, và Nam Kỳ năm 1836). Triều đình thực thi các chính sách ban cấp hạn chế (chủ yếu là tự điền), đẩy mạnh khai hoang phục hóa thông qua các hình thức đồn điền, dinh điền (điển hình là công cuộc khẩn hoang Tiền Hải và Kim Sơn do Nguyễn Công Trứ tổ chức năm 1828-1829), và tư nhân tự khẩn hoang.

Về cơ cấu sở hữu toàn quốc, ruộng đất công bị thu hẹp đáng kể, chỉ chiếm 19,26% tổng diện tích thực trưng cả nước (760.872 mẫu trên tổng số 3.949.225 mẫu công tư điền thổ). Tỷ lệ ruộng công phân bố không đồng đều giữa các vùng miền: vùng đồng bằng Bắc Bộ duy trì tỷ lệ nhất định (Sơn Nam Hạ, Thái Bình 31,43%, Nam Định 40,5%), Thừa Thiên và Quảng Trị ruộng công nhiều hơn ruộng tư, trong khi Nam Bộ ruộng công chỉ chiếm khoảng 8%, và Bình Định ruộng công chỉ chiếm 6,8% (quan và công điền cộng lại đạt 8,97%).

Về mặt hành chính, Bình Định có vị trí địa lý hiểm trở thuộc vùng Nam Trung Bộ. Năm 1808 đổi thành trấn Bình Định, năm 1832 đổi thành tỉnh Bình Định gồm 2 phủ (Hoài Nhơn và An Nhơn) với 5 huyện (Bồng Sơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Viễn, Tuy Phước). Tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), Tổng đốc Bình - Phú Vũ Xuân Cẩn dâng sớ tâu về tình trạng Bình Định có hơn 71.000 mẫu ruộng tư trong khi ruộng công chỉ có hơn 5.000 mẫu, đề xuất hạn chế ruộng tư tối đa 5 mẫu, phần dư sung công. Ban đầu Minh Mệnh bác bỏ vì ngại gây xáo động. Đến tháng 3 năm 1839, Vũ Xuân Cẩn tiếp tục tâu trình. Sau khi sáu bộ bàn bạc, tháng 7 năm 1839, vua Minh Mệnh phê chuẩn chủ trương quân điền tại Bình Định: thôn ấp nào có ruộng tư nhiều hơn ruộng công thì giữ nguyên ruộng công hiện có, cắt lấy một nửa (50%) diện tích ruộng tư sung làm công điền để chia cấp cho binh lính và dân đinh. Triều đình cử Vũ Xuân Cẩn và Doãn Uẩn trực tiếp vào Bình Định thi hành đối với 645/678 thôn ấp.

Địa phương Tỷ lệ ruộng đất công (%) Tỷ lệ ruộng đất tư (%) Ghi chú theo tư liệu
Toàn quốc (thực trưng) 19,26% 80,74% Số liệu tổng hợp đầu thế kỷ XIX
Thái Bình (1805) 31,43% 68,57% Theo thống kê địa bạ Gia Long 4
Hà Đông (1805) 14,59% (công điền) 65,34% (tư điền thổ) Chênh lệch lớn giữa các huyện
Nam Kỳ (1836) ~8,00% 92,43% (tư điền) Thống kê địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh
Trấn Bình Định (1815) 8,97% (gồm cả quan điền) 91,03% Thống kê 559 địa bạ Gia Long 14

Chương 2: Tình hình sở hữu ruộng đất ở Bình Định trước quân điền năm 1839 qua địa bạ Gia Long 14 (1815)

Chương 2 phân tích các dữ liệu từ 24 địa bạ lập năm 1815. Kết quả thống kê cho thấy cơ cấu sở hữu ruộng đất tại Bình Định có tính chất đặc thù:

  • Tỷ lệ sở hữu tư nhân chiếm ưu thế áp đảo. Trong toàn bộ 24 ấp khảo cứu, hoàn toàn không có diện tích công điền thổ sở tại; chỉ xuất hiện một diện tích nhỏ quan điền và công điền của thôn/ấp khác xen kẽ.
  • Về quy mô sở hữu tư nhân: Khác với Nam Bộ nơi có tầng lớp đại địa chủ sở hữu hàng ngàn mẫu ruộng, sở hữu ruộng đất tư nhân tại Bình Định năm 1815 mang tính chất phân tán, manh mún. Mức sở hữu trung bình của mỗi chủ ruộng chỉ xấp xỉ 1 mẫu. Chủ sở hữu có quy mô lớn nhất trong mẫu khảo cứu chỉ đạt trên 20 mẫu, không tồn tại hiện tượng tích tụ ruộng đất quy mô lớn như lời tấu trình của Vũ Xuân Cẩn.
  • Về thành phần chủ sở hữu: Luận án phân tích chi tiết cơ cấu chủ sở hữu theo giới tính, diện cư trú và thân phận:
    • Tỷ lệ chủ sở hữu nữ chiếm tỷ lệ đáng kể trong địa bạ (nhiều chủ nữ có diện tích sở hữu khá cao), phản ánh tập quán thừa kế phân chia tài sản tương đối bình đẳng giữa con trai và con gái tại địa phương.
    • Tỷ lệ chủ phụ canh (người ngụ cư hoặc người từ thôn/ấp khác đến canh tác) chiếm tỷ lệ cao, với mức sở hữu bình quân ngang bằng hoặc cao hơn chủ chính canh.
    • Tầng lớp chức sắc, chức dịch, sắc mục nắm giữ một phần diện tích tư điền nhưng không tạo thành các điền trang hay khối tài sản áp đảo trong cấu trúc làng ấp.
    • Phân bố ruộng đất theo các nhóm dòng họ phản ánh tính chất đan xen, không có dòng họ nào chiếm vị trí độc quyền tuyệt đối về ruộng đất.

Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ lịch sử khai phá đất đai vùng đất mới thời chúa Nguyễn (chính sách khuyến khích tư nhân khai khẩn), tàn dư của các cuộc chiến tranh thời Tây Sơn, và điều kiện tự nhiên đất đai bị chia cắt bởi đồi núi và sông ngòi.

Chương 3: Thực hiện chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định qua địa bạ Minh Mệnh 20 (1839)

Chương 3 tập trung khảo sát 24 địa bạ thôn lập năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) ngay sau khi thi hành quân điền. Kết quả định lượng cho thấy:

  • Cơ cấu ruộng đất bị đảo lộn theo chỉ thị hành chính: Tại 24 thôn nghiên cứu, diện tích ruộng tư bị cắt giảm gần đúng 50%, diện tích công điền sở tại tăng từ mức 0% lên chiếm xấp xỉ 50% tổng diện tích canh tác của làng thôn. Tỷ lệ công - tư điền toàn tỉnh chuyển biến từ chỗ chênh lệch sâu sắc (91% tư - 9% công) sang trạng thái cân bằng tương đối (50% công - 50% tư).
  • Phương thức thực hiện sung công: Việc "cắt lấy một nửa" ruộng tư được tiến hành triệt để trên từng sở ruộng và từng chủ sở hữu, áp dụng đối với mọi thành phần xã hội, kể cả ruộng của công thần thế tộc (chỉ trừ trường hợp ruộng thờ cúng của Đào Duy Từ được triều đình cấp tiền bồi hoàn).
  • Dữ liệu địa bạ và tư liệu điền dã cho thấy việc sung công dẫn đến hiện tượng phân chia đẳng hạng phức tạp trên cùng một thửa đất ("nhất bán vi công, nhất bán vi tư"), gây ra hiện tượng manh mún ruộng đất nghiêm trọng hơn.
  • Phân bố sở hữu tư nhân sau năm 1839: Số lượng chủ sở hữu tư nhân giữ nguyên hoặc biến động nhẹ, nhưng quy mô diện tích của từng chủ bị thu hẹp một nửa. Nhóm chủ sở hữu có diện tích trên 5 mẫu giảm mạnh, trong khi tầng lớp tiểu nông sở hữu dưới 1 mẫu chiếm tuyệt đại đa số. Quyền sở hữu của chủ nữ và chủ phụ canh tiếp tục được ghi nhận trên phần ruộng tư còn lại.
Loại hình ruộng đất Năm 1815 (Địa bạ Gia Long 14) Năm 1839 (Địa bạ Minh Mệnh 20) Biến động cơ cấu
Công điền thổ sở tại 0% (trong 24 ấp mẫu) ~50% (trong 24 thôn mẫu) Tăng đột biến sau sung công
Tư điền thổ ~91% (toàn tỉnh); 100% (24 ấp) ~50% (toàn tỉnh và 24 thôn) Giảm xấp xỉ 50% diện tích
Quy mô sở hữu tư bình quân Xấp xỉ 1 mẫu/chủ Giảm còn ~0,5 mẫu/chủ Bị thu hẹp do cắt giảm hành chính
Chủ sở hữu lớn (>20 mẫu) Rất hiếm (lớn nhất >20 mẫu) Hầu như không còn Xóa bỏ các diện tích tư tương đối lớn

Chương 4: Kết quả quân điền năm 1839 ở Bình Định

Chương 4 tiến hành so sánh đối chiếu số liệu giữa hai thời điểm 1815 và 1839 trên nhiều phương diện:

  • Đối chiếu cơ cấu sở hữu: Luận án phân tích sự suy giảm của quy mô sở hữu tư nhân, sự biến đổi diện tích canh tác của các nhóm chức sắc, chủ nữ và chủ phụ canh.
  • Theo dõi 210 chủ sở hữu trùng tên: Bằng phương pháp đồng nhất định danh trên 24 cặp địa bạ, tác giả xác định được 210 chủ ruộng xuất hiện ở cả hai thời điểm 1815 và 1839. Kết quả phân tích cho thấy: 92 chủ có mức sở hữu ruộng tư giảm đi rõ rệt sau quân điền; 99 chủ có diện tích ruộng tư tăng lên (do quá trình khai phá, mua bán hoặc tích lũy thêm trong 24 năm trước khi bị cắt giảm một nửa vào năm 1839); số còn lại giữ mức biến động không đáng kể.
  • Cách phân chia ruộng công và hệ quả: Luận án phân tích cách thức trích chia ruộng công mới tạo lập thành hai bộ phận: "lương điền" (cấp cho quan lại, biền binh đóng tại địa phương) và "khẩu phần điền" (chia cho dân đinh cày cấy để thu tô thuế).
  • Đánh giá bản chất và tác động của chính sách:
    • Về mặt kinh tế - xã hội: Chính sách không nhằm mục đích "chia đều ruộng đất cho người nghèo" như khẩu hiệu chính trị, mà thực chất nhằm giải quyết tình trạng thiếu lương điền cho quân đội đóng tại Bình Định và bảo đảm nguồn thu thuế đinh, thuế điền cho triều đình Huế.
    • Tác động tiêu cực: Việc cắt giảm cơ học một nửa ruộng tư đã xâm phạm thô bạo vào quyền tư hữu của người nông dân sản xuất nhỏ, làm xáo trộn trật tự canh tác ổn định, gây ra tranh chấp ruộng đất kéo dài tại địa phương (thể hiện qua tư liệu truyền khẩu và văn tự phân thư, văn khế dân gian).
    • Lý do không nhân rộng: Chính sách quân điền năm 1839 bộc lộ nhiều bất cập trong thực tiễn quản lý, không tạo ra động lực phát triển nông nghiệp, dẫn đến việc nhà Nguyễn từ bỏ ý định triển khai mô hình này ra các tỉnh Nam Kỳ và Bắc Kỳ trong những năm tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp khoa học chính như sau:

  1. Về nguồn tư liệu: Xử lý toàn diện 24 cặp địa bạ (48 tập địa bạ gốc) của tỉnh Bình Định lập năm 1815 và 1839, kết hợp đối chiếu với các nguồn thư tịch triều Nguyễn và tư liệu điền dã dân gian (văn tự, gia phả, ký ức truyền khẩu của nhân chứng địa phương), cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về ruộng đất Bình Định nửa đầu thế kỷ XIX.
  2. Về thực trạng sở hữu ruộng đất trước 1839: Chứng minh rằng tại Bình Định trước quân điền năm 1839, sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối (trên 91%), nhưng cấu trúc sở hữu không phải là tình trạng tập trung ruộng đất vào tay đại địa chủ mà là sở hữu nhỏ, phân tán của tầng lớp tiểu nông (bình quân xấp xỉ 1 mẫu/chủ). Luận án bác bỏ nhận định của một số quan lại đương thời cho rằng phú hào Bình Định chiếm đoạt hàng trăm mẫu làm người nghèo không có đất cắm dùi.
  3. Về cơ chế thực hiện chính sách: Làm sáng tỏ quy trình "sung công chiết cấp" cơ học một nửa diện tích tư điền thành công điền tại 645 thôn ấp, cách thức phân bổ ruộng công thành lương điền cho binh lính và khẩu phần cho dân đinh, cũng như việc phân chia đẳng hạng trên từng thửa ruộng.
  4. Về bản chất và đánh giá lịch sử: Đưa ra nhận định khách quan về chính sách quân điền năm 1839: đây là biện pháp can thiệp hành chính mang tính cưỡng chế nhằm phục vụ nhu cầu tài chính và quân sự của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, không phải cuộc cải cách tiến bộ mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân nghèo. Luận án lý giải nguyên nhân thất bại và lý do triều đình không thể mở rộng chính sách này ra phạm vi toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do khối lượng văn bản Hán - Nôm của toàn bộ 1.207 địa bạ Bình Định quá lớn, luận án chỉ tập trung khảo cứu sâu mẫu 24 cặp địa bạ (chiếm xấp xỉ 5% tổng số cặp địa bạ hoàn chỉnh). Mặc dù mẫu chọn mang tính đại diện, số liệu chưa thể bao quát toàn bộ từng thôn ấp cụ thể trong tỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi xử lý các cặp địa bạ còn lại của Bình Định; mở rộng đối chiếu so sánh cơ cấu sở hữu ruộng đất của Bình Định với các tỉnh Nam Kỳ (qua địa bạ năm 1836) và các tỉnh Bắc Kỳ (qua địa bạ năm 1805) nhằm hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về chế độ điền thổ triều Nguyễn.

Giá trị tham khảo

Nội dung luận án có giá trị tham khảo đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại, Lịch sử kinh tế, Lịch sử nhà nước và pháp luật: Tham khảo phương pháp tiếp cận định lượng trong khai thác tư liệu địa bạ và phương pháp kết hợp điền dã lịch sử.
  • Các nhà nghiên cứu địa chí, văn hóa địa phương Bình Định và miền Trung: Khai thác số liệu về diên cách hành chính, tên gọi thôn ấp, phân bố dân cư, sở hữu ruộng đất và quan hệ dòng họ thế kỷ XIX.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 và Chương 3 với hệ thống số liệu thống kê chi tiết về 24 cặp địa bạ; Chương 4 với bảng phân tích 210 chủ sở hữu trùng tên qua hai thời kỳ 1815 và 1839.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao triều đình Minh Mệnh lại chọn duy nhất tỉnh Bình Định để thực hiện chính sách quân điền năm 1839? Theo tư liệu lịch sử, Bình Định có tỷ lệ ruộng đất công quá thấp (chỉ chiếm 6,8% đến 8,97%), trong khi ruộng tư chiếm trên 91%. Tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng ruộng công khiến chính quyền địa phương không có đủ quỹ đất để cấp "lương điền" cho lực lượng quân đội đông đảo đóng tại đây (khoảng 9.500 binh lính không có lương điền) và thu thuế. Do đó, vua Minh Mệnh đã chọn Bình Định để can thiệp nhằm tạo lập quỹ ruộng công phục vụ nhu cầu quân sự và ngân khố.

2. Quy mô sở hữu ruộng tư của nông dân Bình Định trước năm 1839 có bị tập trung vào tay đại địa chủ không? Số liệu khảo cứu 24 địa bạ năm 1815 cho thấy không có sự tích tụ ruộng đất quy mô lớn. Tuyệt đại đa số diện tích ruộng tư nằm trong tay các tiểu nông với mức sở hữu bình quân xấp xỉ 1 mẫu/chủ. Người có diện tích sở hữu lớn nhất trong mẫu nghiên cứu chỉ đạt trên 20 mẫu. Nhận định của Tổng đốc Vũ Xuân Cẩn về việc phú hào chiếm đoạt hàng trăm mẫu là không phản ánh đúng thực tế phổ biến tại các thôn ấp.

3. Phương thức "sung công chiết cấp" một nửa ruộng tư năm 1839 được tiến hành như thế nào? Tại các thôn ấp có diện tích ruộng tư nhiều hơn ruộng công (645 thôn ấp), nhà nước tiến hành đo đạc lại và cắt lấy đúng 50% diện tích của từng sở ruộng tư chuyển thành công điền làng xã ("nhất bán vi công, nhất bán vi tư"). Biện pháp này áp dụng đồng loạt cho mọi chủ sở hữu tư nhân, kể cả quan lại và công thần, ngoại trừ diện tích ruộng hương hỏa của Đào Duy Từ được triều đình đền bù bằng tiền.

4. Địa bạ Bình Định phản ánh vai trò của người phụ nữ trong sở hữu ruộng đất như thế nào? Trong cả hai bộ địa bạ năm 1815 và 1839, danh tính các chủ sở hữu là nữ xuất hiện với tỷ lệ đáng kể. Nhiều chủ nữ đứng tên sở hữu diện tích ruộng tư khá lớn. Điều này phản ánh tập quán thừa kế phân chia tài sản gia tộc tương đối bình đẳng giữa con trai và con gái tại vùng đất Bình Định trong thế kỷ XIX.

5. Kết quả phân tích 210 chủ trùng tên qua hai thời điểm 1815 và 1839 cho thấy điều gì? Việc theo dõi 210 chủ trùng tên giúp tái hiện quá trình biến động tài sản thực tế: 92 chủ bị sụt giảm diện tích sở hữu do bị cắt giảm một nửa; 99 chủ gia tăng diện tích (nhờ tích lũy, khai khẩn trong giai đoạn 1815-1839 trước khi bị chia đôi vào năm 1839). Điều này chứng minh quá trình vận động kinh tế nông nghiệp vẫn diễn ra liên tục song song với sự can thiệp hành chính của nhà nước.

Kết luận

Luận án "Chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định qua tư liệu địa bạ" của Phan Phương Thảo là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thời Nguyễn. Thông qua việc xử lý định lượng 24 cặp địa bạ năm 1815 và 1839 kết hợp tư liệu điền dã, tác giả đã tái hiện cơ cấu sở hữu ruộng đất tại Bình Định trước và sau cải cách. Công trình làm rõ bản chất của chính sách quân điền năm 1839 là biện pháp hành chính cưỡng chế nhằm củng cố quỹ đất công phục vụ binh lính và tô thuế triều đình, chứ không phải cuộc cách mạng ruộng đất vì lợi ích của nông dân nghèo. Các kết luận của luận án cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực, góp phần đính chính nhiều nhận định trước đây về chế độ điền thổ triều Nguyễn.