Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THANH NIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cơ bản về chính sách công 1. Khái niện chính sách công Chính sách công (CSC) là một thuật ngữ được các quốc gia trên thế giới sử dụng từ những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, nó cho thấy mối mối quan hệ giữa nhà nước và người dân.
Ở các nước phát triển thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến với nhiều cách hiểu khác nhau. Trong công trình nghiên cứu về chính sách công của tác giả Đỗ Phú Hải đã tổng hợp khá đầy đủ khái niệm về chính sách công của các học giả trong nước và quốc tế. Mặc dù, các công trình nghiên cứu về chính sách công còn hạn chế, nhiều vấn đề liên quan đến chính sách công vẫn cần tiếp tục làm rõ cả về lý luận và thực tiễn. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về chính sách công, nhưng về cơ bản, chính sách công là chính sách của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước, có vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước, là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền, thành các quyết định có liên quan đến mục tiêu, giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.
Từ quan niệm nêu trên, chính sách công trước hết, được hiểu là hệ thống chính sách của nhà nước, của chính phủ. Bản chất của chính sách công Trong quá trình nghiên cứu chính sách công có rất nhiều khái niệm, định nghĩa cũng như bản chất của chính sách công khác nhau.TS Lê Chi Mai, chính sách công có những đặc trưng: Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn; chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xă hội theo những mục tiêu xác định;chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau… Từ nghiên cứu cách tiếp cận trên về chính sách công của các tác giả tác giả đã cho rằng: Trong thực tế, các chính sách công có thể được đề ra và thực hiện ở những cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào quy mô, như: chính sách của Liên Hiệp quốc, chính sách của vùng, chính sách của quốc gia, chính sách của địa phương. Chính sách công là công cụ thể hiện thái độ chính trị củađảng cầm quyền và các cá nhân trong xã hội là những đối tượng trực tiếp tiếp nhận và thực hiện chính sách. Vì vậy, chính sách chỉ có hiệu lực khi các cá nhân trong xã hội tiếp nhận và thực hiện, do vậy chính sách công cần minh bạch, ổn định và dễ hiểu.
Chính sách công tác động toàn diện đến vấn đề kinh tế - xã hội. Đặc biệt, chính sách điều chỉnh cáchành vi, hoạt động của các cá nhân và từng nhóm đối tượng cụ thể; tạo lập sự cân đối, kiểm soát và phân phối các nguồn lực cho quá trình phát triển; tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội, giúp cho các thực thể vận động, phát triển theo đúng quy luật; phối hợp hoạt động giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính thống nhất chặt chẽ trong quá trình phát triển. Mục đích, vai trò và ý nghĩa của chính sách công Nhà nước là chủ thể duy nhất được ban hành chính sách, vì vậy chính sách công phải vừa bảo đảm quyền lợi của đại đa số cá nhân trong xã hội, vừa thể hiện được quyền lực của nhà nước. Mục đích của chính sách công còn được nhìn nhận dưới góc độ nhà nước dân chủ, nhà nước đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân Nhà nước rất cần xem xét và giải quyết các mối quan hệ có tính phổ biến và bản chất trong đời sống xã hội để bảo đảm tính hiệu quả và hiệu lực của chính sách công.
Do mang tính chất công, vì lợi ích công nên chính sách công hầu hết có tính bắt buộc thi hành. Chính sách công, bằng cách này hay cách khác, buộc các bên tham gia trong đó có người dân, doanh nghiệp phải làm điều này, không được làm điều kia, hoặc chỉ định một bộ phận nhất định được làm, còn bộ phận khác thì không. Để đảm bảo việc thực hiện một chính sách công bao giờ cũng có văn bản hướng dẫn cần thiết việc thi hành, điều chỉnh, sửa đổi và công cụ, phương tiện để thể hiện. Trong đó thưởng, khuyến khích hay phạt là một biện pháp cần thiết.
Mục đích của chính sách công bao gồm: về mặt thời gian lâu dài của chính sách công ở nước ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và trong ngắn hạn, chính sách công có mục đích giải quyết những vấn đề xã hội đó là những mâu thuẫn, những khó khăn gặp phải; phân chia, hài hòa lợi ích trong xã hội; quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc bảo đảm hàng hóa, dịch vụ công cộng; về công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để: khuyến khích việc sản xuất, bảo đảm hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả khu vực tư; về quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. 10 Ngoài vai trò cơ bản trên, CSC còn có vai trò sau: Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội. Điều đó có nghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tác động của CSC cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hành động.
Sự tác động của CSC không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước. Chẳng hạn, để tăng cường đầu tư vào nền kinh tế, Nhà nước ta ban hành chính sách khuyến khích các chủ thể trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư vào các ngành, lĩnh vực hay những vùng cần được ưu tiên phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sảnxuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội. Trong tình hình đó, nhà nước phải sử dụng hệ thống CSC để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp, cung ứng dịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện.
Đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước Nhà nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội, 11 ví dụ như chính sách xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường. Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách kinh tế là bộ phận năng động nhất, có độ nhạy bén cao trước những biến động trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra. Thực tiễn nước ta và nhiều nước trên thế giới cho thấy phần lớn những thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng những chính sách kinh tế thích hợp, có năng suất cao để khai thác tối ưu các lợi thế so sánh của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, vốn, công nghệ, thị trường, kết cấu hạ tầng.
Có một hệ thống chính sách kinh tế đồng bộ, phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là bảo đảm vững chắc cho sự vận hành của cơ chế thị trường năng động, hiệu quả. Nhờ đó có thể khơi dậy các nguồn tiềm năng, phát huy tính tích cực, sáng tạo và ý chí vươn lên làm cho dân giàu, nước mạnh của tầng lớp dân cư. Ngược lại, chỉ cần một chính sách kinh tế sai lầm, sẽ gây ra phản ứng tiêu cực dây chuyền đến các chính sách kinh tế khác, cũng như đến các bộ phận khác của cơ chế quản lý kinh tế, làm giảm hiệu quả của các cơ chế quản lý kinh tế, triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. CSC có ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý, khoa học và thực tiễn ở chỗ nó là chính sách của nhà nước, phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợi ích của nhà nước.
Tính chính trị của CSC biểu hiện rõ nét qua bản chất của nó là công cụ quản trị, quản lý của nhà nước, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tổn tại. Nếu chính trị của nhà nước thay đổi, tất 12 yếu dẫn đến sự thay đổi về chính sách. Điều này khẳng định CSC mang tính chính trị hay ý nghĩa chính trị đậm nét. Ý nghĩa pháp lý của CSC thể hiện ở chỗ, chính sách của nhà nước được ban hành trên cơ sở pháp luật, nhưng pháp luật là của nhà nước nên CSC đương nhiên có ý nghĩa hay tính pháp lý.
CSC dựa trên cơ sở của pháp luật cũng chính là dựa trên ý chí của nhà nước, chuyển tải ý chí của nhà nước thành chính sách, công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.