Chương 1 Cơ sở lý luận của chính sách phát triển nông thôn mới của địa phương cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển nông thôn mới của tỉnh Nghệ An Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị về chính sách phát triển nông thôn mới của Tỉnh Nghệ An 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐỊA PHƢƠNG CẤP TỈNH 1.1 Khái luận về chính sách phát triển nông thôn mới 1.1 Khái niệm nông thôn, nông thôn mới, phát triển nông thôn mới *Khái ni m nông thôn Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn. Theo các tài liệu nghiên cứu, “làng” là từ nôm, là tiếng nói dân dó, ngôn ngữ đời sống trong dân gian ăn sâu vào trong tâm lý, ý thức của người Việt. Theo Hoàng Chí Bảo trong công trình nghiên cứu về “H th ng chính tr ở ơ sở t ớc ta hi ”cũng cho rằng làng Việt vốn hình thành một cách tự nhiên, ra đời không qua bàn tay nhào nặn của chính quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của làng cũng khác nhau: “làng” cũng gọi là "thôn" hoặc "làng xóm", cũng có khi làng cũng chính là "xóm". Làng - xóm là một cộng đồng địa vực, có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định.
Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế. Làng xóm vừa có ruộng, có nghề, có chợ tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng - xóm là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán văn hoá. Làng - xóm cũng là một đơn vị tự trị về chính trị.
Theo Từ điển Bách khoa tiếng Việt thì nông thôn là: "phần lãnh thổ c a một ớc hay c a một ơ v hành chính nằm ngoài lãnh thổ t , có môi tr ờng tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hộ u ki n s ng khác bi t với thành th v yếu làm nông nghi p" Về mặt địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn tạo thành các vành đai bao quanh thành thị. 10 Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông - lâm - ngư nghiệp. Ngoài ra nó còn có các ngành nghề phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Về tổ chức xã hội - cơ cấu dân cư, ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia đình họ với mật độ dân cư thấp.
Ngoài ra, có một số người làm việc ở nông thôn nhưng sống ở đô thị; một số người làm việc ở đô thị, sống ở nông thôn. Về văn hóa, nông thôn là nơi bảo tồn, lưu giữ các di sản văn hóa truyền thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử. Trình độ dân trí, khoa học công nghệ, và kết cấu hạ tầng của cộng đồng dân cư nông thôn thường thấp kém, thua xa so với đô thị. Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”, “b m cả nh ng th trấn mà sự t n tại và phát triển c a nó ph thuộc vào nông nghi p, gắn với nông thôn và bả ảm các d ch v cần thiết c ở t” Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4//2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Đặc điểm của các vùng nông thôn nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với tuyệt đại đa số dân cư sinh sống bằng một loại hình lao động, bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi nhất là về phương diện kinh tế - xã hội. *Khái ni m nông thôn mới Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến , có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. 11 Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Hay nói cách khác: Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Bên cạnh đó, nông thôn mới phải có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. *Khái niệm phát triển nông thôn mới Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu:“ ựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hi ạ ơ ấu kinh tế và các hình th c tổ ch c sản xuất h p lý, gắn nông nghi p với phát triển nhanh công nghi p, d ch v t theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổ nh, giàu bản sắ vă dân tộ ; trí tr ờ s t c bảo v ; h th ng chính tr ở t ới sự ã ạo c Đả tă ờ ” Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM là một chương trình tổng thể.
về phát triển kinh tế- xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, bao gồm 11 nội dung sau: 1) Quy hoạch XDNTM; 2) Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội; 12 3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; 4) Giảm nghèo và an sinh xã hội; 5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; 6) Phát triển giáo dục- đào tạo ở nông thôn; 7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; 8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; 9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trýờng nông thôn; 10) Nâng cao chất lượng tổ chức Ðảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; 11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn. Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn. Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói. Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao.
Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái. Thứ năm, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phương. Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. 13 * Ý nghĩa của phát triển nông thôn mới Phát triển Nông thôn mới là quá trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, phát triển hài hòa, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn.
Phát triển nông thôn mới giúp cho đia phương phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí, Phát triển nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Phát triển nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.2 Khái niệm chính sách, chính sách phát triển nông thôn mới * Khái ni m chính sách Mọi tổ chức, mọi cấp quản lí đều phải sử dụng các công cụ quản lí như chiến lược, kế hoạch, chính sách và quyết định quản lí để tác động lên đối tượng quản lí theo một cách thức nào đó nhằm đạt mục tiêu mong muốn. Chính sách là một trong những công cụ quan trọng của quản lí. Hiện nay, có nhiều quan điểm về khái niệm chính sách.
Theo James Anderson: "Chính sách là một quá t nh hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm". 14 Theo từ điển tiếng việt thì chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được mục tiêu nhất định dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra. Như vậy, hiểu một cách đơn giản chính sách là một chương trình hành động do các nhà quản lí đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó.