Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA 1. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Khái niệm "nguồn nhân lực" và "phát triển nguồn nhân lực" Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã bàn khá sâu sắc về bản chất con người, vÒ vai trò của con người, về vai trò của nhân tố con người trong quá trình phát triển xã hội Gần đây, trong quá trình vận động của nền kinh tế - xã hội, việc xem xét nhân tố con người (NTCN) với tư cách là một nguồn lực xã hội của sự phát triển đã dẫn tới sự hình thành khái niệm mới: Nguồn nhân lực (hay nguồn lực con người). Qua các công trình nghiên cứu gần đây trên thế giới và trong nước, chúng tôi thấy quan niệm về NNL được đề cập tới từ các góc độ sau: - Theo lý thuyết phát triển, NNL theo nghĩa rộng là nguồn lực con người (Human Resources) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ (vùng, tỉnh), nó là một bộ phận cấu thành các nguồn lực, có khả năng lao động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội như nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (Financial Resources).
- Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, NNL được đề cập đến với tư cách là một lực lượng sản xuất chủ yếu, sản xuất ra hàng hóa và dịch vô. Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bản nhất trong xã hội. Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng lao động (LLLĐ) theo nhu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ. - Trong lý luận về vốn người, NNL trước hết như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội.
Ngoài ra, lý luận về "vốn người" còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lực của phát triển. Đầu tư cho con người được phân tích tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tÝnh đến tổng hiệu quả của đầu tư này, hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ đầu tư đó. Cách tiếp cận này được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước hiện nay [79, tr. 138] 8 Theo cách tiếp cận trên, Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) mà mỗi cá nhân sở hữu.
Ở đây, NNL được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác, như vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Việc đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Vì vậy NNL là một nguồn vốn đặc biệt. Dùa trên cách tiếp cận này, Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm NNL và cho rằng: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước.
Đây là yếu tố được coi là quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng xã hội - kinh tế. Ở Việt Nam, quan niệm của các nhà khoa học về nguồn nhân lực được thể hiện trong chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước: "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội", mang mã số KX-O7. Theo đó, NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [19, tr. - Theo hướng tiếp cận khác, NNL được xem xét trong mối quan hệ với các nguồn lực khác và nó được xem như nguồn lực cơ bản, quan trọng, làm động lực cho sự phát triển xã hội: "Thông thường, Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn viết, những nguồn lực làm cơ sở cho chiến lược phát triển của một nước có thể là nguồn lực tự nhiên như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, có thể là cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra trong các giai đoạn trước đó, có thể là nguồn lực ở bên ngoài tự nhiên như vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường, cũng có thể là nguồn nhân lực." và "lịch sử cho thấy đây là nguồn lực lâu bền nhất trong sự phát triển của mọi quốc gia từ trước đến nay.
Cho nên dù có những nguồn lực khác mà không có những con người tương xứng đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó, đủ trình độ nắm bắt và làm chủ kỹ thuật và công nghệ hiện đại và hiện đại nhất, nếu không có một môi trường kinh tế, chính trị xã hội, tâm lý và dư luận xã hội thuận lợi cho con người hoạt động thì khó có thể đạt được sự phát triển như mong muốn" [8, tr. Lại có quan niệm cho rằng: "Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người" [4]. Tựu chung lại, các cách tiếp cận trên đây thể hiện hai phương diện xem xét khái niệm nguồn nhân lực. Một cách tiếp cận những mối liên hệ bên ngoài của nguồn lực con người; còn một cách tiếp cận với NNL từ mối quan hệ và kết cấu nội tại của nã.
Từ mét số cách tiếp cận trên có thể thấy rằng NNL không chỉ đơn thuần là lực 9 lượng lao động đã có và sẽ có, mà nó là cả một tập hợp, một đa phức hợp bao gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc. Trong buổi gặp gỡ các nhà doanh nghiệp, các nhà khoa học - công nghệ các tỉnh thành phố phía Bắc, Thủ tướng Phan Văn Khải nhấn mạnh: "Nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống dân tộc ta" [30]. Điều khẳng định trên có ý nghĩa rất quan trọng định hướng cho việc nhận thức và phát huy tiềm năng nhân lực trên đất nước ta. Con người và nhân tố con người được xem xét bởi hai phương diện: cá nhân và xã hội.
Vì vậy, khi xem xét cấu trúc NNL trước hết phải tính đến phương diện cá thể của NNL, bao gồm: thể lực, trí lực, đạo đức. Mặt khác, khi xem xét NNL cũng phải xem xét mặt xã hội và tính chất xã hội hóa của nó với tư cách là sức mạnh tổng hợp của lực lượng xã hội, những con người tham gia vào sự phát triển xã hội ở mọi lĩnh vực của đời sống. Đây chính là biểu hiện năng lực xã hội (là nhân tố nội sinh, nhân tố bên trong của sự phát triển). Có thể nói rằng chất lượng xã hội của NNL là thước đo chủ yếu của những năng lực xã hội xét trong những điều kiện lịch sử cụ thể.
Tính chất xã hội của nó biểu hiện qua: dân số, chất lượng dân số, chất lượng đời sống dân cư và chất lượng của lực lượng lao động. Mặt xã hội đó phản ánh trình độ thực tế của sự phát triển năng lực xã hội, nó cũng cho thấy tiềm năng của sự phát triển đó. Khi xem xét cấu trúc của NNL, nhất là NNL ở nước ta hiện nay cần phải đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa: nguồn lực tiềm tàng và nguồn lực hiện hữu. Do đó, việc quản lý NNL đòi hái vừa phải đặc biệt quan tâm và chăm sóc đối tượng đang làm việc trực tiếp, có chiến lược và chính sách đúng đắn nhằm hướng tới chất lượng đang đào tạo, vừa phải có tầm nhìn triển vọng đối với lực lượng đang lớn lên, đang sinh ra và tiếp tục sinh ra Từ những điều nêu trên có thể thấy, NNL được đề cập đến như một nguồn lực tổng hợp với các yếu tố hợp thành: sức lực và trí tuệ, số lượng cùng với các đặc trưng về chất lượng (như trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ, phong cách làm việc.), trong đó, con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội, là một yếu tố cơ bản của phát triển sản xuất.
Nếu coi NNL là tiềm năng con người nói chung, những tiềm năng mà con người có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, thì "sử dụng NNL" chính là khơi dậy và phát huy những tiềm năng đó. Phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình biến đổi của NNL 10 nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người. Quá trình sử dụng, phát triển NNL bao gồm nhiều vấn đề, như giải quyết việc làm, sử dụng và phát triển lực lượng lao động, phát huy tiềm năng trí tuệ, phát huy tính sáng tạo, yếu tố tinh thần dân tộc, tạo ra những kích thích và động cơ lao động. Trong đó, giải quyết việc làm và sử dụng lao động chỉ là mét số nội dung của nó mà thôi.
Để khơi dậy và phát huy những tiềm năng con người, việc sử dụng, phát triển NNL phải được tiến hành đồng bé - từ vấn đề giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề, chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc đời lao động đến vấn đề tù do lao động và được hưởng thụ xứng đáng những giá trị mà lao động sáng tạo ra. Nói cách khác, chính sách sử dụng, phát triển NNL phải được lồng ghép với các vấn đề giáo dục, đào tạo và sử dụng lực lượng lao động, tạo việc làm và đãi ngộ thỏa đáng cho con người. Trong đó, giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng NNL là cơ sở để sử dụng, phát triển có hiệu quả nguồn nhân lực và để mở rộng, cải thiện môi trường làm việc. Để làm rõ hơn quan điểm về NNL, có thể đi sâu phân tích những yếu tố cơ bản nhất của NNL và việc sử dụng, phát triển các yếu tố đó trong quá trình CNH, HĐH đất nước.
Chóng ta biết rằng: Lao động là cơ sở để hình thành và phát triển con người; người lao động có vai trò to lớn đối với sự phát triển lịch sử. Do vậy, NNL trước hết được biểu hiện ra là nguồn lao động. Nguồn lao động ở đây là toàn bộ những người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho xã hội.