Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận chung về phát triển dịch vụ và chính sách phát triển dịch vụ của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Dịch vụ ngân hàng DVNH hiện vẫn là khái niệm còn khá nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau. Nhưng để hiểu về DVNH, trước hết chúng ta cần phải hiểu thế nào là DV.
Bản thân thuật ngữ DV cho đến nay cũng vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Tính đa dạng phức tạp, phi vật chất của các loại hình DV, làm cho việc thống nhất định nghĩa về DV trở nên khó khăn. Ngay cả trên thế giới, ở mỗi quốc gia đều có những cách hiểu khác nhau về DV. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng không nêu định nghĩa về DV, mà liệt kê DV thành 12 ngành lớn.
Mỗi ngành lớn lại được chia ra các phân ngành, trong các phân ngành lại liệt kê các hoạt động DV cụ thể chi tiết. Theo định nghĩa ISO 2000 năm 2007, DV là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều quan niệm khác nhau dựa trên tính chất của DV, nhưng tựu trung lại: Dịch vụ là lao động của con người được kết tinh trên giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được. Cách hiểu này nêu được 2 đặc trưng cơ bản của DV: Thứ nhất, DV là một sản phẩm; thứ hai, DV là phi vật chất, là vô hình, DV khác với hàng hoá (là hữu hình).
Tính vô hình, phi vật chất là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm DV với các sản phẩm của ngành sản xuất khác trong các ngành kinh tế. Bởi là vô hình nên không thể sản xuất hàng loạt, nhập kho và sau đó dần đưa vào tiêu dùng. Vì DV là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vô hình, nên khuôn khổ pháp lý và chính sách để điều chỉnh rất khó xác lập chuẩn xác, mà hầu hết, luật pháp các nước đều đặt khái niệm về DV trong khung khổ mở. DV được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và góc độ nhìn nhận.
Trong đó có một cách phân loại rất đáng quan tâm là căn cứ theo tính chất thương mại dịch vụ, người ta phân biệt DV thành: DV mang tính chất thương mại và DV không mang tính chất thương mại. DV mang tính chất thương mại là những DV được cung ứng nhằm mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận. DV không mang tính chất thương mại là những DV được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu cộng đồng, xã hội. Phân biệt rõ điều này rất quan trọng, trong hệ thống ngân hàng, tuy cũng là DV tín dụng, nhưng của các Ngân hàng Thương mại thì đó là DV mang tính chất thương mại, ngược lại của Ngân hàng Chính sách xã hội thì DV tín dụng lại không có mục tiêu đó.
Trên lĩnh vực hoạt động tài chính - ngân hàng, DV tài chính cũng là một khái niệm chưa có sự thống nhất. Theo WTO, một DV tài chính là bất kỳ DV nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp DV tài chính cung cấp. DV tài chính bao gồm mọi DV bảo hiểm và DV liên quan tới bảo hiểm, mọi DVNH và DV tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Như vậy, nội hàm DV tài chính là gồm cả DV bảo hiểm, DVNH và DV tài chính khác.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có sự rõ ràng về khái niệm DVNH. Không ít quan niệm cho rằng: DVNH không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ NH theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi…), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là DVNH (như chuyển tiền, thu uỷ thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán…). Một số khác lại cho rằng tất cả hoạt động NH phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là DVNH. Cũng có ý kiến cho rằng DVNH bao gồm 11 loại hình: nhận tiền gửi, cung cấp các tài khoản giao dịch; quản lý tiền mặt; trao đổi ngoại tệ (DV ngoại hối); DV về tín dụng (chiết khấu thương phiếu, cho vay tài trợ dự án, cho vay tiêu dùng); DV uỷ thác, cho thuê tài chính, tư vấn tài chính; các DV bảo hiểm; môi giới đầu tư chứng khoán; DV quỹ tương hỗ và trợ cấp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Hiện nay ở nước ta, chưa có sự thống nhất về danh mục các chỉ tiêu về DVNH và cũng chưa có điều tra thống kê về DVNH, nên chưa bàn đến độ chính xác và tin cậy của các thông tin nói trên. Nhưng cũng vì thế mà rất cần có sự nghiên cứu để đi đến thống nhất tương đối về DVNH gồm những yếu tố cấu thành nào. Một số quan niệm cho rằng, DVNH cần được hiểu theo hai khía cạnh: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng thì toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống NH (bao gồm NHNN và các NHTM) đều là hoạt động cung ứng DV cho nền kinh tế.
Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành DVNH trong DV của WTO và của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, cũng như nhiều nước phát triển. Còn theo nghĩa hẹp DVNH chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng của định chế tài chính trung gian huy động vốn và cho vay. Luật Các tổ chức tín dụng của Việt Nam có quy định về lĩnh vực DVNH của các NHTM, nhưng không có định nghĩa và giải thích. Khi luật nêu lên cụm từ “liên quan đến hoạt động ngân hàng” và “các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật” là đã có xu hướng hé mở, nhưng lại chưa mạnh dạn cho mở hẳn.
Cách quy phạm như vậy có thể dẫn đến tình trạng làm chậm đổi mới trong nhận thức và chậm đổi mới tư duy pháp lý, tư duy thực tiễn, làm cho sự năng động sáng tạo của các tổ chức tín dụng bị giới hạn khi muốn đưa ra những DV mới đáp ứng yêu cầu của công chúng.Khái niệm phát triển dịch vụ ngân hàng Phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” còn “đổi mới là thay đổi cho khác hẳn với cái trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạc lậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển” (Từ điển bách khoa việt Nam, 2011). Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao. Phát triển không chỉ đơn thuần tăng lên hay giảm đi về lượng mà còn có sự biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra, và theo xu thế phủ định của phủ định.
Như vậy, phát triển là sự tăng lên về số lượng và chất lượng. Phát triển DVNH được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hiểu là mở rộng DVNH về quy mô đồng thời gia tăng chất lượng dịch vụ. Đúc kết lại, từ quan niệm trên về phát triển dịch vụ, tác giả cho rằng: Phát triển DVNH là việc ngân hàng tạo ra sự biến đổi về mặt lượng và mặt chất của các dịch vụ. Theo đó về mặt lượng thể hiện là sự gia tăng quy mô số lượng các dịch vụ.
Về mặt chất là việc gia tăng các tiện ích cung cấp phù hợp với khả năng của ngân hàng theo mục tiêu và định hướng phát triển của ngân hàng cũng như của nền kinh tế. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời. Từ khi hình thành và phát triển cho đến nay có rất nhiều quan điểm đưa ra những khái niệm về NHTM và quan điểm phổ biến nhất đều cho rằng: “Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế”. Theo một số nước tư bản như Mỹ, Nhật.
NHTM được định nghĩa như một tổ chức mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân và đơn vị kinh doanh (các công ty) và để cho vay lại các đối tượng đó. Các ngân hàng này không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các nhóm ngành nghề riêng biệt. đây là các ngân hàng hoạt động theo mô hình chuyên doanh. Trong khi đó, một số nước ở Châu Âu như Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ.
lại quan niệm rằng NHTM có thể kinh doanh đồng thời tổng hợp tất cả các dịch vụ ngân hàng, đó là mô hình ngân hàng đa năng. Nhưng theo quan điểm của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán” và “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”. Từ những định nghĩa trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
Có thể nói, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt bởi vì trước hết nó kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt đó là tiền tệ. Thứ hai, các hoạt động của nó cũng mang tính đặc thù để phù hợp với lĩnh vực kinh doanh. NHTM có vai trò to lớn trong nền kinh tế hiện đại.