Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp 1. Khái niệm về nhà ở Nhà ở là một nhu cầu không thể thiếu đối với mọi con người khi được sinh ra. Nhu cầu về nhà ở là một trong ba nhu cầu cơ bản đầu tiên của con người và quyền có chỗ ở đã được hầu hết các quốc gia quan tâm [19, tr38].
Nhà ở là nơi cư trú của con người, là tổ ấm của mỗi gia đình, tại đây con người được sinh ra, nuôi dưỡng tồn tại và trưởng thành. Nhà là nơi che mưa, che nắng, chống lại thời tiết khắc nghiệt của thiên nhiên đối với con người, nơi tái tạo sức lao động, nơi hình thành và phát triển nhân cách con người. Nhà ở không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân mà còn là một trong những điều kiện đầu tiên để hình thành nên các điểm dân cư, các quần cư của con người. Nhà ở là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trong trong đời sống của người dân nói chung và người dân đô thị nói riêng.
Vì vậy, ngay từ khi mới thành lập (năm 1948) Tuyên ngôn nhân quyền của liên hợp quốc đã nêu những quyền cơ bản của con người là quyền về chỗ ở, nhà ở. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2014: “Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân” [29, tr1]. Nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp Hiện chưa có khái niệm về nhà ở cho công nhân tại các KCN, vì vậy từ khái niệm nhà ở, tác giả đưa ra khái niệm nhà ở cho công nhân, người lao động tại các KCN như sau: Nhà ở cho công nhân, người lao động tại các KCN là các công trình xây dựng với mục đích phục vụ nhu cầu ở và các nhu cầu sinh hoạt của công nhân, người lao động tại các KCN. Nhà ở cho công nhân, người lao động tại các KCN bao gồm: - Nhà ở riêng lẻ là nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề và nhà ở độc lập.
- Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh. - Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật nhà ở. Các loại hình nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp Nhà ở cho công nhân tại các KCN hiện nay rất đa dạng và có nhiều hình thức, tuy nhiên có thể chia thành ba loại chính như sau: - Nhà ở do nhà nước xây dựng. - Nhà ở do các doanh nghiệp xây dựng.
- Nhà ở do các hộ dân xây dựng. Thứ nhất là loại nhà ở do nhà nước xây dựng. Đây là loại hình nhà ở có chất lượng cao nhất trong tất cả các loại hình nhà ở dành cho công nhân, người lao động trong các KCN thuê vì loại nhà ở này được xây dựng theo tiêu chuẩn của Nhà nước ban hành. Hiện nay loại nhà ở này có rất ít, nó chiếm 14 khoảng 1% trong tổng số lượng nhà ở cho công nhân thuê và chỉ được thực hiện ở một số địa phương tập trung các KCN lớn như TP.
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương và Đồng Nai. Thứ hai là loại nhà do các doanh nghiệp xây dựng, đây là loại nhà ở được thiết kế trên diện tích đất tại các KCN. Loại nhà này được xây dựng khoảng 3-5 tầng theo tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng và quy định của Nhà nước. Thứ ba là loại nhà ở do các hộ dân xây dựng, hiện nay loại nhà ở này khá phổ biến ở hầu hết các KCN trên cả nước.
Những loại nhà ở do người dân tự phát xây lên theo xu hướng phát triển bám theo các KCN và loại hình nhà ở này đã đáp ứng được nhu cầu của người lao động tại các KCN. Tuy nhiên loại hình nhà ở này có nhiều cấp độ chất lượng, quy mô khác nhau tùy theo mức độ đầu tư của các cá nhân kinh doanh loại hình nhà ở này. Chính điều đó làm cho loại hình nhà ở này này có chất lượng không đồng đều. Nhiều trong số đó là những căn nhà mái tôn, mái pbroximăng, tường gạch, nền lát gạch hoặc láng xi măng, nhiều căn hộ không có công trình phụ khép kín, còn sử dụng hệ thống nhà vệ sinh chung rất bất tiện, nhất là đối với phụ nữ.
Loại nhà ở do người dân tự phát xây lên hiện nay có thể là loại nhà xây mới, nhà do hộ gia đình ngăn từ diện tích còn thừa của gia đình mình để cho thuê hoặc là nhà xây tạm trên đất vườn, đất thổ cư hay công trình phụ trước đó. Đây là mô hình rất phù hợp với giai đoạn hiện nay, cho nên Nhà nước nên có những cơ chế chính sách để hỗ trợ tạo điều kiện cho những hộ dân có khả năng xây dựng nhà ở cho công nhân thuê, giảm bớt sức ép về nhu cầu nhà ở đang ngày một gia tăng hiện nay. Chính sách nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp 15 1. Khái niệm về chính sách và thực hiện chính sách nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp * Khái niệm chính sách: Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên cho đến nay vẫn khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để Thực thi đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực thi trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá [25, tr157]. Tác giả Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực thi đường lối ấy.
Cấu trúc của chính sách bao gồm: đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện. Chủ thể ban hành chính sách là: chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị, công ty [34]. Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó có sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội [9]. Qua sự phân tích ở trên cho thấy: - Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; - Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; 16 - Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng.
* Khái niệm chính sách công: Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn đề công trong xã hội. Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước đối với các vấn đề phát sinh trong cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Hay chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực thi nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền [18, tr11]. Theo tác giả có thể hiểu: Chính sách công là sự lựa chọn hành động của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành trong một thời gian dài, tác động lên đối tượng để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu nhất định, theo mong muốn của Nhà nước.
* Khái niệm thực hiện chính sách công: Thực thi chính sách là một quá trình phức tạp đòi hỏi các cấp, các ngành có nghĩa vụ, trách nhiệm trong việc triển khai thực hiện chính sách phải cẩn trọng, tỷ mỷ và có trách nhiệm. Giai đoạn này có ý nghĩa quyết định đến kết quả và hiệu quả của chính sách, đòi hỏi có sự chung tay vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở, trong đó nhà nước cùng các cơ quan trong bộ máy quản lý của mình phải trở thành hạt nhân, đầu tàu trong việc vận dụng, tập hợp và dẫn dắt cho các chủ thể khác tích cực, chủ động tham gia thực hiện chính sách một cách có kết quả và hiệu quả. Để đảm bảo 17 cho quá trình tổ chức thực thi chính sách mang lại kết quả và hiệu quả, các chủ thể cần phải thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các bước trong quy trình thực thi chính sách [1, tr144], đó là: Giai đoạn 1: Chuẩn bị triển khai chính sách 1. Xây dựng kế 3.
Tổ chức tập máy tổ chức thực hoạch thực thi hướng dẫn huấn thi chính sách chính sách Giai đoạn 2: Chỉ đạo quá trình thực thi chính sách 1. Xây dựng, thẩm định, 3. Tiến hành phân công, tuyên truyền về phê duyệt và quản lý các phối hợp hoạt động giữa chính sách chương trình, dự án thực thi các cơ quan, tổ chức tham chính sách công gia thực hiện. Giai đoạn 3: Kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh việc thực thi chính sách 1.
Thu thập thông 2. Kiểm tra, đánh 3.