mở đầu, kết luận và phụ lục, bố cục chính của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng một chủ yếu tập trung tìm hiểu các cơ sở hình thành chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga, trong đó phân tích tình hình trong nƣớc và quốc tế có tác động đến chính sách ngoại giao năng lƣợng của Nga. Chƣơng hai tập trung phân tích chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga- cách Nga vận dụng linh hoạt con bài năng lƣợng đối với từng đối tƣợng nhƣ Mỹ, EU và SNG, các cƣờng quốc mới nổi của châu Á- Thái Bình Dƣơng và các nƣớc đang phát triển. Chƣơng ba nêu bật đặc điểm chính sách ngoại giao năng lƣợng của LB Nga thông qua so sánh việc thực hiện ngoại giao năng lƣợng của LB Nga với một số nền ngoại giao năng lƣợng tiêu biểu khác trên thế giới; Phân tích chính sách năng lƣợng của LB Nga đối với Việt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam và đƣa ra một số đề xuất cho Việt Nam nhằm tối đa hóa lợi ích trong quan hệ hợp tác với LB Nga. Chƣơng 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO NĂNG LƢỢNG CỦA LB NGA 1.1 Năng lƣợng và ngoại giao năng lƣợng Theo Từ điển giáo khoa vật lý do Nxb Giáo dục phát hành năm 2007, năng lƣợng là số đo chung của chuyển động vật chất trong các hình thức chuyển động khác nhau, về mặt định tính, ngƣời ta phân ra các dạng năng lƣợng là cơ năng, điện năng, hóa năng…[7, tr.
Theo Từ điển Webster's New World College1, năng lƣợng là năng lực tạo ra hành động hoặc là cơ sở để tạo ra nguồn lực gồm có dạng động năng và thế năng. Trong khi đó, Từ điển American Heritage 42 định nghĩa: năng lƣợng là khả năng tạo ra sức mạnh cho các hoạt động và đƣợc sản sinh từ các nguồn nhiên liệu thô, ánh sáng mặt trời, nhiên liệu hạt nhân…với các dạng điện năng, cơ năng… Nhƣ vậy, năng lƣợng đƣợc định nghĩa theo rất nhiều cách nhƣng về bản chất, năng lƣợng là năng lực làm vật thể hoạt động đƣợc sản sinh từ các nguồn khác nhau nhƣ: Gỗ; sức nƣớc; sức gió; địa nhiệt; ánh sáng mặt trời; than đá, dầu, khí tự nhiên (nhiên liệu hoá thạch) và uranium (nhiên liệu hạt nhân). Trong đó, dầu mỏ, khí đốt và năng lƣợng hạt nhân là những dạng năng lƣợng mang những khía cạnh chính trị đặc biệt và có tác động trực tiếp tới môi trƣờng quan hệ quốc tế vì hai lí do. Thứ nhất, dầu mỏ và khí đốt chiếm tới 40% tổng cầu năng lƣợng thô của thế giới, và dự báo cho tới năm 2030, nguồn năng lƣợng này vẫn chiếm khoảng 35% tổng cầu năng lƣợng toàn hành tinh nên chúng đƣợc xếp vào danh sách các nguồn nguyên liệu thô có tính “chiến lƣợc”[55].
1 Từ điển Webster's New World College là từ điển chính thức của hãng tin AP, tạp chí Wall Street Journal, tạp chí New York Times và các tạp chí hàng đầu khác. 2 Là từ điển tiếng Anh đƣợc biên soạn bởi 1 nhóm chuyên gia trong các lĩnh vực học thuật khác nhau. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, năng lƣợng hạt nhân là nhân tố có tầm ảnh hƣởng lớn cả về quân sự và dân sự. Về mặt quân sự, vũ khí hạt nhân là loại vũ khí hủy diệt, có sức công phá lớn.
Do đó, những cƣờng quốc hạt nhân luôn có tiếng nói đặc biệt trên trƣờng quốc tế và chống phổ biến vũ khí hạt nhân là một trong những vấn đề trọng điểm trong quan hệ quốc tế đầu thế kỉ 21. Về mặt dân sự, điện hạt nhân đang là giải pháp tối ƣu đƣợc nhiều quốc gia tính đến khi nhu cầu điện trên thế giới ngày càng gia tăng và nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt. Có thể nói, vì năng lƣợng tác động trực tiếp và sâu sắc đến hầu hết các mặt của đời sống kinh tế- xã hội thế giới cho nên một cuộc đua ngoại giao năng lƣợng “khốc liệt” chƣa từng có trong lịch sử đã xuất hiện với những ván bài “chính trị- năng lƣợng”, “năng lƣợng- chính trị” đan xen, trong đó lợi ích quốc gia luôn đƣợc đặt lên hàng đầu. Sự ráo riết trong hoạt động ngoại giao giữa các nƣớc có nhu cầu cao về năng lƣợng với các quốc gia dồi dào tài nguyên đã góp phần làm rõ hình hài khái niệm “ngoại giao năng lƣợng”.
Ngƣời ta có thể hiểu ngoại giao năng lượng là một nhánh quan trọng của ngoại giao kinh tế, có nghĩa là thông qua các hoạt động trên lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận chuyển năng lượng với các nước khác để làm cơ sở giúp tối đa hóa lợi ích quốc gia [56]. Hay theo quan niệm của thủ tƣớng Malaysia Abdullah Ahmad Badawi, ngoại giao năng lượng là làm giảm bớt mức độ phụ thuộc vào các nguồn cung cấp dầu và khí đốt bên ngoài nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia [57]. Có thể nói, đúng nhƣ cựu ngoại trƣởng Mỹ Henry Kissinger khẳng định “những vấn đề năng lượng, tài nguyên ngày nay đang đứng ngang hàng với các vấn đề an ninh quân sự, ý thức hệ, tranh giành lãnh thổ [27, tr. Năng lƣợng đang khiến cho đời sống chính trị thế giới trở nên nhộn nhịp hơn trên cả cấp độ song phƣơng và đa phƣơng.
Về cấp độ song phương, năng lƣợng là mục tiêu thúc đẩy nguyên thủ các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc lớn nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, thực hiện các cuộc viếng thăm cấp cao tới các khu vực có trữ lƣợng dầu mỏ lớn nhằm tăng cƣờng quan hệ hợp tác. Điển hình nhƣ Trung Quốc, riêng trong năm 2004, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhƣ Hồ Cẩm Đào, Ngô Bang Quốc, Ôn Gia Bảo….đã lần lƣợt thăm 32 quốc gia gồm các nƣớc châu Á (Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Lào, Pakistan…), châu Âu (Nga, Anh, Hà Lan), Trung Á (Kazakhstan, Kyrgyzstan, Azerbaijan), châu Phi (Sudan, Nigeria, Gabon…), Nam Mỹ (Venezuela, Peru…). 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lƣợng hạt nhân cũng chính là nền tảng để Mỹ thúc đẩy và đàm phán những kế hoạch hành động song phƣơng với Nga, Nhật, Trung Quốc và Úc. Kế hoạch hành động song phƣơng Mỹ- Nga đƣợc ký kết vào ngày 11/12/2006, là kết quả của Hội nghị công tác năng lƣợng hạt nhân dân sự Mỹ- Nga.
Kế hoạch hành động chung về năng lƣợng nguyên tử Mỹ- Nhật đƣợc ký kết ngày 18/4/2007. Kế hoạch hành động hợp tác năng lƣợng hạt nhân dân sự song phƣơng Mỹ- Trung đƣợc ký kết ngày 18/9/2007 tại Viên và kế hoạch hành động song phƣơng Mỹ- Úc đƣợc ký kết ngày 30/8/2007 [58]. Trên cấp độ đa phương, dầu mỏ và khí đốt cũng đã góp phần hình thành những liên minh, những quan hệ đối tác chiến lƣợc và tập hợp lực lƣợng mới. Ngoài tổ chức các nƣớc xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) ra đời từ năm 1960 với sự tham gia của 5 quốc gia, trong những năm qua, thế giới đã chứng kiến sự hình thành và ra đời của khá nhiều tổ chức trong đó dầu mỏ và khí đốt là nguyên nhân chính.
Tổ chức Hợp tác Thƣợng Hải (SCO) là một ví dụ điển hình của sự tập hợp lực lƣợng trong đó dầu mỏ và an ninh khu vực là trụ cột chính. Những thành viên của SCO là những quốc gia có trữ lƣợng dầu khí dồi dào đồng thời cũng là những nƣớc có nhu cầu năng lƣợng hàng đầu thế giới (Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Trung Quốc và Uzbekistan). Sự xuất hiện của 4 nƣớc Iran, Pakistan, Mông Cổ và Ấn Độ với vai trò quan sát viên tại Hội nghị thƣợng đỉnh SCO lần thứ 6 tại Thƣợng Hải tháng 6/2006 đã khiến thế giới quan ngại bởi mƣời nƣớc này nắm giữ 25% trữ lƣợng dầu mỏ và khí đốt toàn thế giới [21, tr. Một tỉ lệ có thể tạo ra đột biến trong cán cân cung- cầu năng lƣợng và ảnh hƣởng trực tiếp tới nền kinh tế thế giới.
Tại Nam Mỹ, dầu mỏ cũng là trụ cột chủ đạo tạo ra cơ chế điều phối và hợp tác khu vực. Tiêu biểu là đề xuất của tổng thống Venezuela- Hugo Chavez về việc thành lập khối PetroCaribe (cho các quốc gia vùng Caribe) và PetroSur (cho các quốc gia Nam Mỹ). Sự gắn kết giữa các quốc gia Nam Mỹ còn đƣợc củng cố hơn nữa qua dự án xây dựng tuyến đƣờng ống dẫn dầu siêu trƣờng từ Venezuela đến Argentinavà tuyến đƣờng ống dẫn khí đốt thiên nhiên từ Peru xuyên qua dãy Andet để kết nối vào hệ thống ống dẫn khí đốt của Brasilvà Argentina, tạo thành một “đại vành đai khí đốt” ở Nam Mỹ [59]. Nhiều tổ chức khu vực và quốc tế cũng bổ sung vấn đề an ninh năng lƣợng và hợp tác trong lĩnh vực năng lƣợng vào chƣơng trình nghị sự và những ƣu tiên của mình.
Ví nhƣ Hiệp định an ninh dầu mỏ khu vực ASEAN (APSA); Sáng kiến an ninh năng lƣợng APEC (AESI) đƣợc thông qua từ năm 2004 với 4 nội dung chính- chia sẻ thông tin về tình hình dầu mỏ; đảm bảo 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com an ninh vận tải đƣờng biển; chia sẻ thông tin trong các trƣờng hợp khẩn cấp; đáp ứng trong các trƣờng hợp khẩn cấp về năng lƣợng và những kế hoạch dài hạn [60]. Bên cạnh dầu mỏ, khí đốt, vấn đề chống phổ biến vũ khí hạt nhân cũng là điểm nóng chính trị của thế kỉ 21 khi Iran và Bắc Triều Tiên tuyên bố chƣơng trình hạt nhân quốc gia, các nƣớc nhƣ Ấn Độ, Israel và Pakistan từ chối tham gia Hiệp ƣớc không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT)3. Điều này buộc các quốc gia có vũ khí hạt nhân đƣợc công nhận trong Hiệp ƣớc NPT nhƣ Anh, Pháp, Nga, Mỹ và Trung Quốc phải hợp tác với nhau để đối phó với thách thức hạt nhân. Vấn đề phát triển ngành năng lƣợng nguyên tử và chống phổ biến vũ khí hạt nhân đã thúc đẩy việc thành lập các tổ chức hợp tác quốc tế.
Tiêu biểu nhƣ Chƣơng trình đối tác năng lƣợng hạt nhân toàn cầu (Global Nuclear Energy Partnership - GNEP) ra đời ngày 19/6/2007 với 16 quốc gia thành viên là Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Úc, Bungary, Hungary, Kazakhstan, Ba Lan, Slovenia, Ghana, Jordan, Lithuania, Romania và Ukraina. GNEP là sự hợp tác giữa các quốc gia cùng chia sẻ tầm nhìn chung về sự cần thiết mở rộng sử dụng năng lƣợng hạt nhân vì mục đích hòa bình một cách an toàn và không phổ biến vũ khí hạt nhân. Hiện nay, Chƣơng trình đối tác năng lƣợng hạt nhân toàn cầu (GNEP) đƣợc đổi tên là khuôn khổ hợp tác năng lƣợng nguyên tử quốc tế (IFNEC) với 25 quốc gia thành viên, 3 quan sát viên thƣờng trực là các tổ chức đa phƣơng và 31 quốc gia tham gia với tƣ cách quan sát viên [16, tr6].