Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Xét tổng thể, tình hình nghiên cứu về Philippines nói chung và chính sách kinh tế Philippines nói riêng ở Việt Nam là tương đối ít ỏi, thiếu tính cập nhật và tập trung vào một số ít chuyên gia, nhà nghiên cứu. Phần lớn công trình nghiên cứu về kinh tế Philippines ở giai đoạn trước được đặt trong bối cảnh nghiên cứu chung với kinh tế các nước trong khu vực Đông Nam Á. Có thể kể tới một số công trình tiêu biểu như: Phạm Nguyên Long (1997), Nguyễn Thu Mỹ (2001), Phạm Đức Thành (2001),…Các nghiên cứu này tập trung phân tích và làm rõ chiến lược phát triển ở cả khía cạnh kinh tế và xã hội của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Philippines ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX.
Có thể cho rằng đây là những công trình nghiên cứu rất có giá trị trong việc cung cấp cái nhìn tổng thể và khái quát chung về con đường phát triển của Philippines cũng như các quốc gia láng giềng ở khu vực trong bối cảnh Việt Nam cũng vừa mới bắt đầu công cuộc Đổi mới. Liên quan tới chủ đề nghiên cứu của Luận án, có thể kể tới một số công trình tiêu biểu sau. Đinh Quý Độ (1997) làm rõ những đặc trưng cơ bản và khái quát nhất của nền kinh tế Philippines trong giai đoạn đầu những năm 1990 thông qua phân tích một số vấn đề như: cơ cấu ngành kinh tế, đặc biệt là ngành nông nghiệp và công nghiệp, hệ thống tài chính – ngân hàng và hoạt động kinh tế đối ngoại. Đi sâu hơn vào cải cách kinh tế của Philippines ở giai đoạn trước KHTCCA, Phạm Thị Thanh Bình (1994) đề cập tới chính sách phát triển hệ thống tài chính – ngân hàng và các cải cách thuế và tài khóa.
Nghiên cứu chỉ ra chính phủ Philippines có những cải cách hệ thống ngân hàng (HTNH) đáng kể ở giai đoạn đầu những năm 1990 thông qua quá trình củng cố và sáp nhập các ngân hàng, phân tách các loại hình ngân hàng theo chức năng và phạm vi hoạt động ở mức độ chuyên sâu hơn. Bên cạnh đó, chính phủ Philippines cũng tiến hành quá trình tư nhân hóa các ngân hàng trong giai đoạn này. Những điều chỉnh trong chính sách tài chính – ngân hàng này được tác giả đánh giá là huy động được một lượng lớn tiền nhàn rỗi từ người dân và là nguồn bổ sung quan trọng cho ngân sách quốc gia. Mặc dù vậy, nghiên cứu cũng 6 chỉ ra những tồn tại, yếu kém trong hoạt động của HTNH vẫn chưa được giải quyết và vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong bối cảnh bên ngoài có nhiều biến động.
Đối với chính sách thuế và tài khóa, nghiên cứu cũng đánh giá chương trình cải cách thuế quan giai đoạn 1970-1980 không có nhiều chuyển biến và thiếu hiệu quả, trong đó vai trò mờ nhạt của các tổ chức thuế là một trong những nguyên nhân dẫn tới nạn tham nhũng và sự trì trệ trong quá trình cải cách. Nguyễn Văn Hà (1998) tập trung phân tích những chính sách cải cách chủ yếu của Philippines ở giai đoạn Tổng thống Corazon Aquino và Ramos bao gồm: cải cách nền tài chính quốc gia, cải cách khu vực kinh tế nhà nước, phát triển nông nghiệp, chính sách thương mại và đầu tư. Trong cải cách tài chính, tác giả phân tích và làm rõ các cải cách thuế khóa và quản trị thuế với việc tăng cường kiểm tra và giám sát các cơ quan quản lý thuế cùng với nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách qua việc tập trung vào các chương trình ưu tiên giải quyết các vấn đề bức thiết của xã hội và cắt giảm chi tiêu trong các chương trình đầu tư xây dựng kém hiệu quả. Tác giả đánh giá nhờ các biện pháp thận trọng và chặt chẽ này tình hình tài khóa được cải thiện căn bản.
Đối với cải cách khu vực kinh tế nhà nước, tác giả cho rằng chương trình tư nhân hóa các xí nghiệp nhà nước dưới thời Tổng thống Ramos được đẩy mạnh ở một số lĩnh vực quan trọng như dầu khí, hàng không, năng lượng,…Trong cải cách nông nghiệp, tác giả nhấn mạnh vào chương trình cải cách ruộng đất với các quy định hạn điền đối với từng loại cây trồng, chăn nuôi, thủy sản,…cũng như quy định trong mua bán, chuyển nhượng, cho thuê. Về cải cách chính sách thương mại và đầu tư, tác giả phân tích những điều chỉnh của chính phủ Philippines nhằm khuyến khích và thúc đẩy đầu tư sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là việc mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu đánh giá những điều chỉnh, cải cách chính sách của chính phủ Philippines trong giai đoạn cuối thập kỷ 80 tới giữa thập kỷ 90 giúp nền kinh tế phục hồi và phát triển đúng hướng. Tuy nhiên, KHTCCA có tác động mạnh tới nền kinh tế Philippines.
Đề cập sâu vào các chính sách kinh tế cụ thể, Phạm Thị Thanh Bình (2001) làm rõ cải cách tài chính và cải cách trong lĩnh vực ngân hàng của chính phủ Philippines tiến hành trong và những năm đầu sau KHTCCA. Đối với lĩnh vực tài khóa, tác giả 7 phân tích các biện pháp chính sách của chính phủ Philippines nhằm ứng phó với tác động của khủng hoảng với việc nhấn mạnh vào cải cách thuế, đẩy mạnh quá trình tư nhân hoá các công ty nhà nước, cải cách thị trường vốn và cắt giảm chi tiêu chính phủ. Đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng, chính phủ Philippines đưa ra một loạt biện pháp nhằm ổn định đồng Peso, tăng cường và thắt chặt các quy định nhằm kiểm soát các giao dịch ngoại hối và đưa ra các biện pháp xử phạt nặng đối với các ngân hàng và cá nhân vi phạm các quy định giao dịch ngoại hối. Bên cạnh đó, chính phủ không can thiệp vào tỷ giá hối đoái và cũng không bán ngoại tệ để bảo vệ đồng Peso và tăng nguồn dự trữ Đô la Mỹ.
Các biện pháp nhằm tăng cường giám sát hoạt động của ngân hàng cũng được tiến hành. Hàng loạt vụ sáp nhập và mua lại giữa các ngân hàng được thực hiện ngay sau khủng hoảng. Đồng thời, chính phủ Philippines cũng mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài tham gia hoạt động trong hệ thống tài chính của Philippines nhằm tạo môi trường cạnh tranh hơn và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tác giả nhận định cải cách tài chính ngân hàng mà chính phủ Philippines tiến hành ngay sau KHTCCA đem lại kết quả nhất định trong hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng.
Xem xét từ khía cạnh chính sách kinh tế đối ngoại, Phạm Thị Thanh Bình (2003) làm rõ những nguyên nhân dẫn tới việc điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại của Philippines ở thời điểm đó. Tác giả chỉ ra những điều chỉnh chính trong chính sách kinh tế đối ngoại bao gồm: 1) khuyến khích và đa dạng hoá xuất khẩu thông các ưu đãi về thuế và tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu; 2) tiến hành tự do hoá trong lĩnh vực thương mại và hoạt động của các ngân hàng nước ngoài; 3) thu hút đầu tư FDI và 4) giảm nợ nước ngoài bằng cách đưa ra loại chứng khoán nợ đặc biệt với thời hạn 5 năm và cho phép các nhà đầu tư tham gia vào việc mua bán tài sản các doanh nghiệp nhà nước… Cũng đề cập tới vấn đề hội nhập kinh tế và tự do hoá thương mại của Philippines, có thể kể đến công trình nghiên cứu của Vũ Thanh Hương (2013), tác giả cho rằng Philippines tích cực thúc đẩy quá trình tự do hóa trong khu vực và thực hiện nghiêm túc các cam kết CEPT và ATIGA. Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra so với các nước ASEAN-6 khác, mức độ dỡ bỏ thuế quan của Philippines thuộc loại thấp nhất và Philippines vẫn chưa tận dụng được các cơ hội giảm thuế để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy xuất khẩu sang các nước 8 ASEAN, trong khi các nước ASEAN tận dụng khá tốt từ việc cắt giảm thuế của Philippines. Từ góc độ chính sách ngành kinh tế, Phạm Thị Thanh Bình (2004) chỉ ra rằng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Philippines trong giai đoạn 1986-2000 diễn ra ngược lại so với các quốc gia khác trong khu vực.
Cụ thể, tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp vào GDP ở Philippines đã giảm xuống trong khi lĩnh vực công nghiệp đã tăng đáng kể ở các nước khác trong khu vực. Lê Thị Ái Lâm (2011) đánh giá khái quát tình hình kinh tế xã hội thông qua một số chỉ số vĩ mô chính như tăng trưởng kinh tế, tỷ giá, lạm phát, tình hình tài khóa, hệ thống tài chính, vấn đề việc làm, nghèo đói và bất bình đẳng. Nghiên cứu cũng đề cập tới một số chính sách kinh tế chủ yếu nhằm lý giải thành công và hạn chế của các kết quả kinh tế trong giai đoạn này. Theo đó, tác giả cho rằng sau KHTCCA, chính phủ Philippines tập trung vào các biện pháp tiền tệ thắt chặt nhằm ổn định thị trường tài chính và kiểm soát lạm phát.
Đồng thời, theo tác giả, các biện pháp tài khóa nhằm thay đổi hệ thống thuế và quản trị thuế thông qua tăng thuế giá trị gia tăng (VAT) và mở rộng diện chịu thuế giúp cải thiện tình hình thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài. Trong lĩnh vực ngân hàng, nghiên cứu chỉ ra những cải cách từ giai đoạn trước KHTCCA cùng với Luật Ngân hàng chung năm 2000 giúp củng cố HTNH. Mặc dù vậy, các khoản vay kém chất lượng và vấn đề nợ khó đòi chưa giải quyết được. Cũng liên quan tới cải cách tài chính và ngân hàng sau KHTCCA, Lê Thị Thanh Hương (2010) cũng chỉ ra những cải cách tài chính và HTNH của Philippines tiến hành từ đầu những năm 2000 đạt được một số kết quả tích cực trong việc cải thiện môi trường cạnh tranh và tính minh bạch cho hệ thống tài chính.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cho rằng rủi ro liên quan tới nợ xấu vẫn là vấn đề chưa giải quyết được. Xem xét từ khía cạnh mô hình phát triển, Lưu Ngọc Trịnh và Vũ Bá Thể (2014) tập trung phân tích và đánh giá những điều chỉnh trong mô hình tăng trưởng của Philippines từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 (KHTCTC) đến những năm đầu nhiệm kỳ Tổng thống Aquino III.