Chương I: Một số vấn đề lý luận về chính sách khoan hồng trong xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh Chương II: Thực trạng pháp luật về chính sách khoan hồng trong xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh năm 2018 và một số giải pháp hoàn thiện. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH KHOAN HỒNG TRONG XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT CẠNH TRANH 1.1 Những vấn đề chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Vì cạnh tranh không phải là một thuật ngữ pháp lý, cho nên khó có thể tìm thấy một định nghĩa thuật ngữ “cạnh tranh” trong văn bản pháp luật của các quốc gia, kể cả trong các án lệ của các Tòa án ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ. Hơn nữa do tính chất đa dạng và phức tạp của quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế hiện đại nên các định nghĩa về cạnh tranh chưa có tính khái quát cao và bao trùm trong thực tiễn mặc dù đều nêu được những đặc điểm căn bản về cạnh tranh. Theo Black’s Law, cạnh tranh là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân tìm cách đạt được cùng một lợi thế kinh doanh từ các chủ thể thứ ba 4.
Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là: “Chạy đua trong kinh tế, hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhu cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau, với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”. “Chạy đua, trên một thị trường mà cấu trúc và sự vận hành đáp ứng các điều kiện của pháp luật cung cầu của một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những người sử dụng hoặc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ và các quyết định kinh doanh không phải là hệ quả của những áp lực hoặc những ưu đãi thuần túy do pháp luật mang lại” 5. Hay theo Từ điển Kinh doanh Collins, “cạnh tranh là quá trình ganh đua tích cực giữa những người bán một sản phẩm nhất định nhằm đạt được và duy trì người mua (khách hàng) đối với sản phẩm của mình” 6. Garner (2004), Black’s Law Dictionary, Eight Edition, NXB.
Thomson West, tr.302 5 Võ Thị Thanh Linh (2018) Câu hỏi và giải đáp môn học Luật cạnh tranh và chống độc quyền, NXB Tư pháp, tr.9 6 Christopher Pass, Bryan Lowes, Andrew Pendletoon & Leslie Chadwivk (1994), Dictionary of Business, NXB. Harper Collins, tr.106 8 17 Ngoài ra, theo Wikipedia Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác7. Hay tại quyển Từ điển tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục, theo nghĩa thông thường cạnh tranh được hiểu là việc “đua tranh để giành ưu thế về mình” hoặc sự “cố gắng giành phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”8. Về bản chất, cạnh tranh nói chung là một hiện tượng xã hội.
Hiện nay có thể thấy rằng chúng ta chưa có bất kì một định nghĩa chính xác về cạnh tranh, tuy nhiên nhìn chung có thể thấy một dấu hiệu đặc thù của cạnh tranh đó là sự ganh đua lẫn nhau của ít nhất là hai hay nhiều đối thủ trong cùng một lĩnh vực nhất định. Và dưới góc độ là đối tượng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh nên các định nghĩa về cạnh tranh suyên suốt đề tài này sẽ được xem xét dưới góc độ kinh tế. Như vậy, hiểu đơn giản cạnh tranh trong kinh doanh đó là sự chạy đua, nỗ lực của các chủ thể kinh doanh cùng một loại hoặc một nhóm hàng hóa dịch vụ nhất định nhằm không ngừng tung ra thị trường những sản phẩm có giá trị tốt nhất với giá cả rẻ nhất nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm hàng hóa dịch vụ do mình cung cấp với mục đích chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường. Với cách hiểu này theo quan điểm của nhóm tác giả, cạnh tranh trong kinh doanh có bốn đặc điểm: Thứ nhất, về chủ thể thực hiện các hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh đó là các chủ thể đang tiến hành các hoạt động kinh doanh, bao gồm cá nhân, tổ chức, gọi chung là doanh nghiệp hoặc là các hình thức tổ chức kinh doanh khác, miễn là các chủ thể này đều tiến hành hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận.
Bởi lẽ như đã đề cập cạnh tranh trong kinh doanh đó là một hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại, hoặc một nhóm hàng hóa dịch vụ cụ thể hoặc những hàng hóa dịch vụ có thể thay thế cho nhau, do đó về nguyên tắc thì chủ thể tham gia 7 “Cạnh tranh là gì”, https://vi.org/wiki/C%E1%BA%A1nh_tranh, truy cập ngày 27/2/2021 8 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2008), Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB. Giáo dục, Hà Nội, tr.106 9 18 cạnh tranh cũng phải là các chủ thể đang tiến hành hoạt động kinh doanh. Hơn nữa, sỡ dĩ các chủ thể kinh doanh cũng chỉ cạnh tranh với nhau khi kinh doanh cùng một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ có cùng tính chất, cùng công dụng và có thể thay thế cho nhau là bởi vì trong nền kinh tế thị trường, khách hàng là thượng đế của doanh nghiệp, là nhân tố có vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do vậy khi kinh doanh cùng một loại hoặc nhóm hàng hóa các doanh nghiệp sẽ phải luôn luôn ganh đua, loại trừ lẫn nhau để giành những ưu thế và lợi thế cho mình, thu hút khách hàng sử dụng hàng hóa dịch vụ do mình cung cấp.
Thứ hai, đó là hình thức biểu hiện của sự cạnh tranh đó là sự ganh đua, chạy đua, kình địch giữa các chủ thể kinh doanh. Sự ganh đua này có thể được biểu hiện bằng những hành vi lành mạnh, chẳng hạn như áp dụng các biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá, tạo sự tin tưởng của người tiêu dùng đối với sản phẩm,.hoặc cũng có thể bằng những hành vi bất chính, không lành mạnh như hành vi ép buộc trong kinh doanh, ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó9 hay hành vi lôi kéo khách hàng bất chính như đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác; so sánh hàng hóa dịch vụ của mình với hàng hóa dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nọi dung 10. Cho nên có thể thấy cạnh tranh không hẳn là tiêu cực mà bên cạnh đó còn có những mặt tích cực, chính vì vậy cần có những biện pháp kiểm soát hiện tượng xã hội này. Thứ ba, đó là nói về mục đích của cạnh tranh, như đã đề cập tại phần khái niệm, cạnh tranh nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm hàng hóa dịch vụ do mình cung cấp với mục đích chiếm thị phần lớn hơn trên thị trường.
Bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường, thị phần được chia nhỏ cho các đối thủ cạnh tranh, mà thị 9 Khoản 2 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 10 Khoản 5 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 10 19 phần càng lớn thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể kinh doanh đạt được mục tiêu lợi nhuận của mình. Chính vì vậy, trong cùng một nền kinh tế thị trường, cùng một loại hàng hóa dịch vụ hoặc kinh doanh cùng một nhóm các hàng hóa dịch vụ có thể thay thế cho nhau thì cạnh tranh càng khốc liệt. Thứ tư, cạnh tranh chỉ tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nói cách khác cạnh tranh trong kinh doanh chỉ xuất hiện khi có những tiền đề nhất định, đó là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nơi mà “cung cầu là khungg xương vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường” 11.2 Khái niệm về pháp luật cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường có ba quy luật phổ biến, trong đó có thể nói cạnh tranh đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao đời sống của con người. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực như vậy cạnh tranh còn là một hiện tượng xã hội phức tạp mà mặt trái của hiện tượng này thể hiện ở những hành vi không lành mạnh, không trung thực, tạo lập quyền lực thị trường bóp méo cạnh tranh,.Chính vì vậy cạnh tranh cần phải được kiểm soát thông qua các công cụ quản trị thị trường, bảo vệ cạnh tranh mà trong đó quan trọng nhất là pháp luật.
Vậy pháp luật cạnh tranh là gì? Pháp luật cạnh tranh là một đạo luật tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trên thị trường, khuyến khích hoặc tìm cách duy trì thị trường cạnh tranh lành mạnh và cấm đoán các hành vi bóp méo hoặc hạn chế cạnh tranh. Luật Cạnh tranh được gọi là luật chống độc quyền tại Hoa Kỳ và Liên Minh Châu Âu12, và là luật chống độc quyền ở Trung Quốc và Nga13. Trong những năm trước đây nó đã được biết đến như là thực tiễn thương mại luật ở Vương quốc Anh và Úc. Hiện nay Việt Nam cũng đã ban hành Luật Cạnh tranh của Việt Nam, văn bản pháp luật đang hiện hành đó là Luật Cạnh tranh 2018.
11 Nguyễn Nhu Phát, Bùi Nguyên Khánh (2001), tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 12 “Antitrust”, http://ec.eu/competition/antitrust/overview_en.html , Truy cập ngày 29/2/2021 13 The Role of Competition Law: An Asian Perspective, http://papers.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=2281756 , Truy cập ngày 29/2/2021 11 20 Xét về cấu trúc, pháp luật cạnh tranh của các nước khác nhau thì có cấu trúc khác nhau, đại đa số hầu hết các nước trên thế giới đều phân chia thành hai nhóm hành vi đó là pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (hay còn gọi là chống độc quyền hay kiểm soát độc quyền).