Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thị trường ngày càng khốc liệt, đổi mới công nghệ là yếu tố sống còn quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Tại tỉnh Hải Dương, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vị trí nòng cốt trong nền kinh tế địa phương với 6.074 đơn vị trên tổng số 6.478 doanh nghiệp hoạt động năm 2015, chiếm tỷ lệ gần 94%. Khu vực này đóng góp 18,3% vào tổng GDP toàn tỉnh và chiếm tới 45,9% tổng thu ngân sách nội địa năm 2012. Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm cho khoảng 11.000 lao động mỗi năm, phần lớn các DNNVV Hải Dương vẫn đang vận hành với hệ thống máy móc lạc hậu, tuổi thọ thiết bị trung bình từ 15 đến 20 năm trong ngành cơ khí và hệ số đổi mới thiết bị chỉ đạt mức 3-5%. Rào cản lớn nhất kìm hãm hoạt động đổi mới công nghệ chính là sự thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn lực tài chính và sự hạn chế trong việc tiếp cận các kênh huy động vốn.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng chính sách tài chính thúc đẩy đổi mới công nghệ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm khơi thông các dòng vốn trực tiếp và gián tiếp cho các DNNVV trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2010 - 2015. Về mặt ý nghĩa, công trình mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản lý hoàn thiện chính sách hỗ trợ, giúp doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ đổi mới máy móc, hướng tới mục tiêu nâng mức đóng góp của khối DNNVV vào GDP địa phương lên 28-30% và cải thiện hiệu suất kỹ thuật toàn ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết về bốn thành phần cấu thành công nghệ của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, bao gồm: phần vật tư kỹ thuật (Technoware), phần con người (Humanware), phần thông tin (Inforware) và phần tổ chức (Orgaware). Quá trình đổi mới công nghệ được xác định là việc thay thế một phần cốt lõi hoặc toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ tiên tiến hơn, diễn ra qua năm hình thức: tạo sản phẩm mới, áp dụng quy trình sản xuất mới, mở rộng thị trường, sử dụng nguyên liệu mới và đổi mới cơ cấu tổ chức.

Về mặt chính sách kinh tế, đề tài vận dụng lý thuyết chính sách tài chính quốc gia và khung chính sách hỗ trợ DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP cùng Quyết định số 1231/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hệ thống khái niệm chủ đạo được định hình bao gồm:

  • Công nghệ: Hệ thống giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật kèm theo công cụ, phương tiện nhằm biến đổi nguồn lực thành sản phẩm hoàn chỉnh.
  • Đổi mới công nghệ: Hoạt động cải tiến, thay thế công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và cắt giảm 12-20% chi phí năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm.
  • Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Cơ sở kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân năm dưới 300 người theo quy chuẩn pháp lý.
  • Chính sách tài chính đổi mới công nghệ: Tập hợp các công cụ trực tiếp (ngân sách nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, cho thuê tài chính) và gián tiếp (ưu đãi thuế, trích lập quỹ phát triển KH&CN tối đa 10% thu nhập trước thuế, quỹ đầu tư mạo hiểm) nhằm kích thích doanh nghiệp đầu tư công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2015 từ Cục Thuế tỉnh Hải Dương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư với nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 6 năm 2016. Khảo sát định lượng được thực hiện trên cỡ mẫu N = 50 doanh nghiệp nhỏ và vừa đại diện cho các ngành kinh tế chủ lực của địa phương.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hải Dương, phân bổ theo ba lĩnh vực: công nghiệp (chiếm 28,8%), xây dựng - dịch vụ (chiếm 70,0%) và nông - lâm nghiệp - thủy sản (chiếm 1,2%). Phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu là thống kê mô tả, phân loại, so sánh tổng hợp số liệu trên phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm phản ánh trực quan, chính xác hiện trạng công nghệ và các rào cản tài chính mà doanh nghiệp đang gặp phải, đảm bảo tính thực tiễn cao và phù hợp với đặc thù dữ liệu khảo sát cấp địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự mâu thuẫn lớn giữa nhận thức về sự cần thiết đổi mới công nghệ và năng lực đầu tư thực tế. Trong 50 doanh nghiệp được khảo sát, 100% (50/50 doanh nghiệp) khẳng định việc cải tiến quy trình sản xuất và bố trí lại tổ chức là cần thiết, 90% (45 doanh nghiệp) nhận định nghiên cứu sản phẩm mới là cấp thiết. Tuy nhiên, có tới 42% (21 doanh nghiệp) cho rằng việc đầu tư đổi mới toàn bộ máy móc dây chuyền là không cần thiết hoặc không khả thi do năng lực tài chính tự có quá hạn hẹp (vốn đăng ký bình quân chỉ hơn 2 tỷ đồng/doanh nghiệp).

Thứ hai, trình độ công nghệ của các DNNVV tại Hải Dương phân hóa sâu sắc và còn lạc hậu. Ngành cơ khí có tuổi thiết bị trung bình từ 15 đến 20 năm, hệ số đổi mới thiết bị chỉ đạt 3-5%, mức trang bị vốn sản xuất chỉ từ 20-60 triệu đồng/người. Trái lại, ngành dệt may có tuổi thiết bị từ 4-10 năm và hệ số đổi mới đạt 70-80%. Tại khu vực nông thôn, có tới 45% doanh nghiệp chỉ sử dụng dụng cụ cầm tay thủ công, 12% dùng công cụ cơ giới và 43% sử dụng máy chạy điện, khiến chỉ số hiệu suất kỹ thuật bình quân chỉ đạt 0,70.

Thứ ba, phương thức đổi mới công nghệ chủ yếu dựa vào sao chép và thiếu tính sáng tạo. Trong số các doanh nghiệp khảo sát, 50% (25 doanh nghiệp) thực hiện đổi mới bằng cách bắt chước, thiết kế lại mẫu; 20% (10 doanh nghiệp) mua công nghệ từ nước ngoài; chỉ có 6% (3 doanh nghiệp) hợp tác với các viện nghiên cứu trong nước và hoàn toàn không có doanh nghiệp nào (0%) thuê tổ chức tư vấn công nghệ độc lập.

Thứ tư, hiệu quả tiếp cận các nguồn tài chính công và chính sách ưu đãi còn rất thấp. Trong giai đoạn 2011 - 2015, dù tỉnh đã đầu tư 142,096 tỷ đồng cho 151 nhiệm vụ KH&CN (vốn ngân sách địa phương chiếm hơn 96%), có tới 71% chủ doanh nghiệp khảo sát không hề biết đến các chương trình KH&CN cấp quốc gia (chỉ 29% có nhận biết). Thực hiện Nghị định 119/1999/NĐ-CP, toàn tỉnh mới chỉ có 128 DNNVV nhận được hỗ trợ tài chính, trong đó chỉ 18 doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 25% cho công nghệ cao và 15 doanh nghiệp nhận hỗ trợ 30% kinh phí đề tài nghiên cứu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gốc rễ của việc chậm đổi mới công nghệ là do quy mô vốn của các DNNVV tại Hải Dương quá nhỏ, tài sản bảo đảm không đủ điều kiện vay trung - dài hạn từ các ngân hàng thương mại. Thị trường cho thuê tài chính và quỹ đầu tư mạo hiểm tại địa phương chưa phát huy được vai trò cấp vốn mồi. So với mặt bằng chung của các nước đang phát triển với mức hiệu suất kỹ thuật tối ưu từ 60-70%, mức 0,70 của Hải Dương cho thấy doanh nghiệp đang khai thác tối đa thiết bị cũ nhưng có tới 23% doanh nghiệp không thể gia tăng sản lượng nếu không đầu tư máy móc mới.

Dữ liệu thực trạng có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện hệ số đổi mới thiết bị giữa ngành cơ khí (3-5%), giày da (40-50%) và dệt may (70-80%), đi kèm bảng ma trận so sánh chi phí năng lượng (chiếm 12-20% giá thành) nhằm chứng minh tác động trực tiếp của công nghệ lạc hậu tới bài toán tài chính doanh nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách tín dụng ngân hàng và cơ chế bảo lãnh vay vốn. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Hải Dương cùng các ngân hàng thương mại cần thiết lập cơ chế thẩm định dựa trên tính khả thi của dự án công nghệ, cho phép thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng dư nợ tín dụng trung và dài hạn cho đổi mới công nghệ của khối DNNVV lên mức 30-35% tổng dư nợ toàn tỉnh trong giai đoạn 2017 - 2022.

Thứ hai, phát triển dịch vụ cho thuê tài chính máy móc, thiết bị. Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam tổ chức các hội nghị kết nối, tạo điều kiện cho hơn 20 công ty cho thuê tài chính tiếp cận các DNNVV tại Hải Dương. Mục tiêu đặt ra là hỗ trợ ít nhất 100 lượt doanh nghiệp trong ngành cơ khí, dệt may và chế biến nông sản thuê mua dây chuyền công nghệ cao trong giai đoạn 3 năm tiếp theo.

Thứ ba, tối ưu hóa công cụ thuế và quỹ phát triển KH&CN nội bộ. Cục Thuế tỉnh Hải Dương cần đơn giản hóa quy trình xác nhận chi phí nghiên cứu phát triển, hướng dẫn 100% doanh nghiệp đủ điều kiện trích lập tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm vào Quỹ phát triển KH&CN theo Quyết định số 1231/QĐ-TTg, đồng thời thực hiện miễn giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm liên tiếp cho các đơn vị ứng dụng sáng chế mới.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách nhà nước cho KH&CN. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương cần xây dựng cổng thông tin chuyển giao công nghệ trực tuyến, nâng tỷ lệ chủ doanh nghiệp nhận biết chính sách KH&CN từ 29% hiện nay lên trên 75% trước năm 2020. Đồng thời, Sở cần dành nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN (hiện chiếm 0,45% tổng chi ngân sách tỉnh) để tài trợ trực tiếp 30% kinh phí cho tối thiểu 30 dự án nghiên cứu cải tiến kỹ thuật của DNNVV mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và ban ngành địa phương (Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh Hải Dương). Luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu thực tế từ 6.074 doanh nghiệp để các cơ quan xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính, quy hoạch ngành công nghiệp hỗ trợ và điều tiết ngân sách KH&CN đạt hiệu quả cao.

Thứ hai, chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị DNNVV. Nghiên cứu mang đến cẩm nang phân tích 7 phương thức đổi mới công nghệ và hướng dẫn cách thức tiếp cận nguồn vốn thay thế như cho thuê tài chính, tín dụng thương mại và cách trích lập 10% quỹ KH&CN nội bộ để chủ động nguồn lực khi vốn đăng ký bình quân chỉ đạt hơn 2 tỷ đồng.

Thứ ba, các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và công ty cho thuê tài chính. Tài liệu cung cấp bức tranh chi tiết về nhu cầu vốn và hệ số đổi mới thiết bị theo từng ngành (cơ khí 3-5%, dệt may 70-80%), giúp các định chế tài chính thiết kế các gói sản phẩm tín dụng và dịch vụ thuê mua máy móc chuyên biệt.

Thứ tư, các chuyên gia, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu thực chứng và bài học kinh nghiệm trong quản lý tài chính cho công nghệ tại cấp tỉnh với mẫu khảo sát 50 doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Rào cản tài chính lớn nhất trong đổi mới công nghệ của DNNVV tại Hải Dương là gì?
Rào cản lớn nhất là quy mô vốn tự có của doanh nghiệp rất nhỏ (bình quân hơn 2 tỷ đồng/doanh nghiệp) và thiếu tài sản giá trị cao để thế chấp vay ngân hàng. Bên cạnh đó, việc tiếp cận mức hỗ trợ 30% kinh phí từ ngân sách nhà nước theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP gặp nhiều thủ tục phức tạp, khiến khoảng 70% doanh nghiệp thiếu vốn mở rộng công nghệ.

Tại sao hình thức cho thuê tài chính chưa được các DNNVV tại địa phương sử dụng phổ biến?
Dù cả nước có hơn 20 công ty cho thuê tài chính, kênh này chưa phổ biến tại Hải Dương do doanh nghiệp có tâm lý muốn sở hữu tài sản hoàn toàn và thiếu thông tin kết nối. Khảo sát 50 doanh nghiệp cho thấy có 0% doanh nghiệp thuê tư vấn chuyển giao công nghệ, làm hạn chế cơ hội tiếp cận hình thức thuê mua thiết bị trả chậm.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận mức hỗ trợ tài chính nào từ Nhà nước?
Theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP và Quyết định 1231/QĐ-TTg, DNNVV được nhà nước hỗ trợ tối đa 30% tổng kinh phí thực hiện đề tài tạo công nghệ mới, được trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế vào Quỹ phát triển KH&CN doanh nghiệp và được hưởng ưu đãi giảm thuế thu nhập doanh nghiệp 25% khi ứng dụng công nghệ cao.

Mức độ chênh lệch trình độ công nghệ giữa các ngành tại Hải Dương thể hiện như thế nào?
Số liệu thống kê cho thấy ngành dệt may có hệ số đổi mới thiết bị đạt 70-80% với tuổi đời máy móc 4-10 năm. Ngược lại, ngành cơ khí có tuổi thiết bị lên tới 15-20 năm nhưng hệ số đổi mới chỉ đạt 3-5%, khiến chi phí tiêu hao năng lượng chiếm tới 15-20% giá thành sản phẩm.

Tỷ lệ nhận biết về các chương trình KH&CN quốc gia của doanh nghiệp Hải Dương là bao nhiêu?
Khảo sát 50 doanh nghiệp ghi nhận chỉ có 29% chủ doanh nghiệp nắm được thông tin về các chương trình KH&CN trọng điểm quốc gia, trong khi 71% hoàn toàn không biết. Nguyên nhân chủ yếu do công tác truyền thông chính sách chưa hướng mạnh về cơ sở và thủ tục xét duyệt còn quá phức tạp với quy mô doanh nghiệp nhỏ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về công cụ tài chính trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Phân tích thực chứng bức tranh công nghệ của 6.074 DNNVV tại Hải Dương, chỉ rõ thực trạng lạc hậu trong ngành cơ khí với hệ số đổi mới thiết bị chỉ đạt 3-5% và tuổi máy móc 15-20 năm.
  • Xác định điểm nghẽn tiếp cận tài chính khi 71% doanh nghiệp không nắm bắt được thông tin về các chương trình KH&CN và 42% doanh nghiệp e ngại đầu tư máy móc do thiếu vốn trung - dài hạn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với tín dụng ngân hàng, cho thuê tài chính, ưu đãi thuế và nâng cao hiệu quả nguồn vốn ngân sách KH&CN (vốn đạt 142,096 tỷ đồng giai đoạn 2011-2015).
  • Khẳng định tầm quan trọng của việc chủ động trích lập tối đa 10% quỹ phát triển KH&CN nội bộ nhằm giúp doanh nghiệp tự tạo nguồn lực đổi mới công nghệ và giảm tiêu hao năng lượng 12-20%.

Lộ trình triển khai các giải pháp cần được tỉnh Hải Dương thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2017 - 2025 nhằm hoàn thiện môi trường thể chế và nâng tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ lên trên 50%. Các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần chủ động tái cấu trúc vốn, tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu và tận dụng các gói hỗ trợ công nghệ của nhà nước để bứt phá năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới.