phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 04 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách hƣớng Nam mới của Hàn Quốc Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Tác động của chính sách hƣớng Nam mới tới quan hệ thƣơng mại Hàn Quốc - Việt Nam Chƣơng 4.
Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ thƣơng mại Hàn Quốc - Việt Nam 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH HƢỚNG NAM MỚI CỦA HÀN QUỐC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đƣợc đánh giá nhƣ mẫu hình thành công trong nỗ lực kết giao với các nƣớc thuộc Thế giới thứ nhất nhờ đƣờng lối đối ngoại tích cực, cởi mở và thực dụng, Hàn Quốc ngày nay đã có tầm tác động và sức chi phối lớn hơn đối với những đổi thay của tình hình khu vực và quốc tế. Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của quốc gia này, vì lẽ đó, cũng đƣợc đi sâu khai thác trên nhiều bình diện nhƣng tựu trung có thể chia thành ba nhóm cơ bản sau đây: 1.
Nội dung tổng quan Thứ nhất, các nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc Trƣớc hết, các công trình nghiên cứu đề cập đến chính sách đối ngoại của Hàn Quốc nhƣ Claude A.Buss: “The United States and the Republic of Korea: Background for Policy” (1982); Koen De Ceuste: “Pride and Prejudice in South Korea’s Foreign Policy” (2005); Choo Yong-Shik: “South Korea’s Foreign Policy: National Division and Its Implications for US – ROK Alliance” (2006); Weston S. Manyin: “South Korea - Its Domestic Politics and Foreign Policy Outlook” (CRS Report for Congress, 2009)… Những công trình nói trên tập trung phân tích, lý giải mối quan hệ đồng minh về an ninh - chính trị giữa Mỹ và Hàn Quốc với tƣ cách là một trụ cột, bảo đảm và duy trì hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Bên cạnh đó, Hàn Quốc cũng thể hiện thái độ và quan điểm tự chủ, giảm dần sự chi phối, lệ thuộc vào các siêu cƣờng trong hoạch định chính sách đối ngoại. Tiếp đến, là các công trình viết về những nhân tố tác động, đặc điểm và hoàn cảnh ra đời của chính sách đối ngoại Hàn Quốc, chẳng hạn: Kim Kyung Woong, Park Gun Young với “Kim Dae Jung Government’s North Korean Policy Direction” (The Korean Political Science Association, 2000); Lee Jay Cho, Chung Si Ahn, Choong Nam Kim: “Changing Korea in Relational and Global Contexts” 4 (Seoul National University Press, 2004); Choong Nam Kim: “The Roh Moon Hyun Government’s Policy toward North Korea” (East-West Center Working Papers, 2005); Kim, S.H: “North Korean Policy of Lee Myung Bak Government” (Korean Institute for National Unification, Seoul, 2008); Kim KS: “Concept, Assessment and Future Task of the Perspective of The Evolution of the Policy” (Korea and World Polictics, 2008); Gilbert Rozman, In Taek Hyun, Shin Wha Lee: “South Korean Strategic Thought toward Asia” (2008)… Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này còn tập trung đánh giá, phân tích sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc, những chuyển biến trong các vấn đề khủng hoảng hạt nhân, liên kết Đông Bắc Á – Đông Á và kết quả thiết lập trật tự quốc tế ở khu vực sau mỗi bƣớc điều chỉnh đó.
Các nghiên cứu của học giả Hàn Quốc cũng tập trung phân tích hai mặt thành công và hạn chế của chính sách Hàn Quốc đối với các nƣớc trong khu vực, điển hình nhƣ: Choi WK với “The Sad Fate of Icarus: The Kim Young Sam’s Government Policy toward North Korea” (Korea and World Politics, 1997); Norman D. Levin, Yong Sup Han: “Sunshine in Korea: The South Korean Debate Over Policies toward North Korea” (Published by RAND - Center for Asia Pacific Policy, 2002); Kim Hosup: “Evaluation of President Roh Moo Hyun’s Policy toward Japan” (Korea Focus, 2005); Sukhee Han: “From Engagement to Hedging: South Korea’s New China Policy” (The Korean Journal of Defense Analysis, 2008). Nổi bật nhất về đề tài này là nghiên cứu của Kim Young Sung với tiêu đề: “Success and Failure in Dealing with North Korea: Has Issue-Linkage Worked?” (The University of Warwick, 2009). Bài viết không chỉ nêu rõ hai điểm mạnh và yếu của chính sách Hàn Quốc đối với CHDCND Triều Tiên mà còn bày tỏ khá rõ ràng quan điểm, thái độ của các nƣớc lớn nhƣ: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… đối với đƣờng lối đối ngoại của Hàn Quốc và giải mã lợi ích chiến lƣợc của từng quốc gia khi cùng với Hàn Quốc tham gia vào tiến trình hợp tác khu vực.
Các công trình khoa học còn nghiên cứu đối sánh chính sách giữa các tổng thống cầm quyền trong từng giai đoạn lịch sử nhằm làm rõ tính kế thừa, sáng tạo 5 của mỗi chính sách; qua đó, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho ngoại giao Hàn Quốc. Đây là đề tài đƣợc tác giả Young Whan Kihl khai thác qua hai bài viết: “The Past as Prologue: President Kim Dae Jung’s Legacy and President Roh Moo Hyun’s Policy Issues and Future Challenges” (2003) và “Transforming Korean Polititics: Democracy, Reform, Culture” (Armonk, New York: M. Điển hình về nội dung luận giải bài học lịch sử cho chính sách của Hàn Quốc với các nƣớc Đông Bắc Á là công trình của Choi Jinwook (2012) với tiêu đề: “Korean Unification and a New East Asian Orded” (Korea Institute for National Unification). Công trình này đã rút ra những kinh nghiệm trong hoạch định chính sách dựa trên hai nhân tố: Truyền thống hợp tác và nhu cầu hợp tác giữa Hàn Quốc với các quốc gia trong khu vực từ sau Chiến tranh lạnh.
Đặc biệt, các tác giả còn rất thành công trong việc phát hiện và lý giải ý đồ chính trị của các nƣớc ở trong và ngoài khu vực khi đẩy mạnh chính sách can dự trên bán đảo Triều Tiên. Thứ hai, các nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc đối với các nước Đông Bắc Á Cho đến nay, ngoài các bài viết khá phong phú của các tác giả Hàn Quốc, chính sách của Hàn Quốc đối với các nƣớc Đông Bắc Á còn đƣợc nhiều học giả phƣơng Tây quan tâm nghiên cứu. Một số công trình đáng chú ý nhƣ: Dlynn Faith Armstrong: “South Korea’s Foreign Policy in the Post - Cold War Era: A Middle Power Perspective” (1997); Paul Chamberlain: “Korea 2010: The Challenges of the New Millennium” (2001); Scott Snyder: “Lee Myung Bak and the Future of Sino-South Korean Relations” (2008); Weston S. Manyin: “South Korea: Its Domestic Politics and Foreign Policy Outlook” (2009).
Đây là những công trình viết riêng về Hàn Quốc hoặc viết chung về quá trình hợp tác khu vực, trong đó đề cập đến khả năng và triển vọng liên kết giữa Hàn Quốc với các quốc gia ở Đông Bắc Á. Bên cạnh đó, các tác giả còn xác định những thách thức trong quan hệ giữa Hàn Quốc với các nƣớc trong khu vực. Dù phản ánh nhiều nội dung và khía cạnh khác nhau nhƣng các công trình nghiên cứu trên vẫn cung cấp cho chúng tôi một cái nhìn đầy đủ và trung thực về các giai đoạn thăng trầm trong lịch sử ngoại giao Hàn Quốc. 6 Nghiên cứu về vai trò, vị trí của Hàn Quốc trong tiến trình hợp tác khu vực.
Đối với nội dung này, đa phần các bài viết đều tập trung làm rõ quá trình hợp tác giữa Hàn Quốc và khu vực trên một số khía cạnh riêng lẻ (kinh tế, an ninh - chính trị, khoa học và công nghệ…), chẳng hạn: Tôn Khánh Linh với“Một số khía cạnh chính trị và an ninh của cộng đồng Đông Á” (Nghiên cứu Quốc tế, 2001); Lƣu Thanh Mai: “Tìm hiểu hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Hàn Quốc” (Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, 2002); Trần Bá Khoa: “Hiện trạng và triển vọng hợp tác kinh tế Đông Á” (Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, 2003); Võ Hải Thanh: “Quan hệ hợp tác kinh tế của Hàn Quốc với các nước trong khu vực Đông Bắc Á” (Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, 2005). Đi sâu phân tích và luận giải về vai trò, vị trí của Hàn Quốc thông qua tiến trình hợp tác khu vực là hai ấn phẩm: “Những xu hướng phát triển kinh tế chủ yếu ở khu vực Đông Bắc Á” do Ngô Xuân Bình chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, 2007 và “Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN+3” do Nguyễn Thu Mỹ chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, 2008. Dù cùng bàn luận về tiến trình và kết quả hợp tác Đông Á trong mối liên hệ mật thiết giữa Hàn Quốc với các nƣớc nhƣng điểm nổi bật của công trình khoa học thứ nhất là đề cập đến nhân tố Hàn Quốc trong quan hệ hợp tác song phƣơng Nhật Bản – Hàn Quốc và hợp tác đa phƣơng Trung Quốc – Nhật Bản – Hàn Quốc nhằm hƣớng tới Hiệp định mậu dịch tự do (FTA) và hình thành hệ thống liên kết kinh tế ở Đông Bắc Á. Trong khi đó, tác giả Nguyễn Thu Mỹ và cộng sự lại tập trung nêu bật vai trò của Hàn Quốc trong quá trình hoạch định đƣờng lối và thực hiện các biện pháp hợp tác do Nhóm nghiên cứu Đông Á (EASG) đề xuất.
Nghiên cứu chung và riêng về chính sách của Hàn Quốc đối với các nước từ sau Chiến tranh lạnh. Trƣớc hết, tiêu biểu nhất trong mảng nghiên cứu chung về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc trong mối liên hệ với các quốc gia đồng minh và các chủ thể chính trị ở Đông Bắc Á là cuốn: “Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau Chiến tranh lạnh và quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam” do Nguyễn Hoàng Giáp chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành vào năm 2009. Với công trình này, các tác giả đã khái quát sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hàn Quốc với Trung Quốc, 7 Nhật Bản, CHDCND Triều Tiên và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đặc biệt, chính sách và quan hệ của Hàn Quốc đối với các nƣớc Đông Á đã đƣợc tập thể tác giả nhìn nhận kỹ lƣỡng và đánh giá khách quan dựa trên ba yếu tố: Một là, sự chuyển dịch nhạy cảm về cán cân so sánh lực lƣợng ở Đông Á từ sau Chiến tranh lạnh; hai là, yêu cầu định hình lại cơ cấu đối tác kinh tế; ba là, những toan tính mới trong ý đồ chiến lƣợc của các nƣớc lớn đối với bán đảo Triều Tiên.
Qua đó, công trình này khẳng định chính sách đối ngoại của Hàn Quốc hƣớng tới mục tiêu tạo lập môi trƣờng khu vực thuận lợi cho phát triển kinh tế ở trong nƣớc; đồng thời, tìm kiếm giải pháp hòa bình cho vấn đề an ninh – chính trị trên bán đảo Triều Tiên.