Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 1. Một sô khái niệm chính 1. Khai niệm văn hóa và ngoại giao văn hóa Văn hóa (Culfure): Có nhiều khái niệm về văn hóa với nhiều cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau. Theo cựu Tổng giám đốc UNESCO - Federico Mayor năm 1988: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại.
Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ay đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thị hiếu - những yếu tô xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”. Tu một góc độ khác, trước đó, tác giả Edward Burnett Taylor (1832 - 1917) trong “Văn hóa nguyên thủy” (Primitive Culture) năm 1871 đã nêu định nghĩa “Văn hóa hoặc văn minh hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiểu thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội”.1] Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hoá được hiéu theo cả ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp: (1) Theo nghĩa rộng, Hồ Chí Minh nêu văn hoá là toàn bộ những giá tri vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra. “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. 458] (2) Theo nghĩa hep, văn hoá là những giá trị tinh thần.
Người viết: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng”.11] (3) Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người được đánh giá băng trình độ học van phố thông, thé hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu câu mọi người “phải di hoc văn hóa”, “xóa mù chữ”. 99 66 15 Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1999), văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử: nên văn hóa của các dân tộc, kho tàng văn hóa dân tộc: là đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế và văn hóa, chủ ý đời sống văn hóa của nhân dân; là tri thức khoa học, trình độ học vấn: trinh độ văn hóa, học các môn văn hóa: là lỗi song, cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn minh: người có văn hóa, gia đình văn hóa mới; là nền văn hóa một thời kỳ lịch sử cô xưa, xác định được nhờ tổng thể các di vật tìm được có những đặc điểm chung: văn hóa Đông Sơn, văn hóa riu hai vai.1796] Ngoại giao (Diplomacy): Theo cách hiểu phô biến nhất, ngoại giao là việc thực hiện các mối quan hệ giữa các quốc gia có chủ quyền thông qua liên lạc, thương lượng, gây ảnh hưởng cũng như điều chỉnh những khác biệt. Hoạt động ngoại giao đã xuất hiện từ lâu đời ở nhiều nền văn minh trên thế giới, tiêu biểu như Trung Quốc và Hy Lạp cô đại.
Ngoại giao là một khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của những khả năng, là hoạt động của các cơ quan làm công tác đối ngoại và các đại diện có thâm quyền làm công tác đối ngoại của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích, quyền hạn của quốc gia, dân tộc ở trong nước và trên thé giới, góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế chung, bằng con đường đàm phán vá các hình thức hoà bình khác. Ngoại giao văn hóa (Cultural diplomacy): Ngoại giao văn hóa là một hình thức ngoại giao thông qua công cụ văn hóa dé thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại nhăm đạt được các mục tiêu lợi ích cơ bản của quốc gia là phát triển, an ninh và ảnh hưởng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, NGVH có thé bao gồm cả việc giới thiệu các thành tựu khoa học kĩ thuật, khoa học xã hội, nghệ thuật,. không chỉ của riêng quốc gia mà còn của các nhóm quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế.
[11] Với Việt Nam, NGVH được xác định là việc triển khai các hoạt động văn hóa do Nhà nước làm chủ đạo, nhằm đạt được những mục tiêu chính tri, kinh tẾ, văn hóa phù hợp với yêu cầu chung của công tác ngoại giao. Nội hàm của NGVH bao gồm các hoạt động chính là mở đường, khai thông quan hệ với các nước và khu vực chưa có nhiêu quan hệ; xúc tiên, tăng cường và 16 làm sâu sắc hiểu biết với các quốc gia; quảng bá hình ảnh đất nước và con người trên trường quốc tế; vận động dé quốc gia mình có nhiều di sản được UNESCO công nhận, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại dé làm giàu ban sắc văn hóa dân tộc. Cũng cần phân biệt rõ giữa NGVH và văn hóa ngoại giao. NGVH là dùng văn hóa dé làm ngoại giao, trong khi đó văn hóa ngoại giao thiên về những biểu hiện, cách ứng xử của các nhà lãnh đạo hay cán bộ ngoại giao (phong thái ngoại giao) hoặc cách thức giải quyết vấn đề đối ngoại của một quốc gia dựa trên tư tưởng, chính sách và các ảnh hưởng văn hóa.
Sức mạnh mém (Soft power): Joseph Nye, Giáo su Dai hoc Harvard, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thời Tổng thống B. Clinton, là người khởi xướng học thuyết “sức mạnh mềm” (Soft power). Khái niệm này được J.Nye đưa ra lần đầu tiên trong một quyên sách phát hành năm 1990, “Bound to Lead: The Changing Nature of American Power”. Sau đó, trong tác phẩm “Soft Power: The Means To Success In World Politics” (PublicAffarrs, Dai hoc Michigan, 16/3/2004), Giáo sư J.Nye đã nêu rõ hơn về định nghĩa của sức mạnh mềm: “sức mạnh mềm là một thuật ngữ thường dùng dé chỉ những ảnh hưởng, tác động, can thiệp,.
thuộc về những nhân tố văn hóa - xã hội, ké cả những nhân tố tín ngưỡng, tâm lý, truyền thống, giá trị. Đối lập với “sức mạnh cứng” (Hard power), “sức mạnh mềm” là “khả năng đoạt lay thứ mình muốn thông qua sự hap dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia”. “Sức mạnh mềm” mang tính phi quân sự, phi bạo lực, sinh ra từ sự lựa chọn chứ không phải áp đặt.
Nó có khả năng giải quyết tốt các van dé từ góc độ văn hóa - xã hội. Có 3 nguồn lực chính để tạo nên “sức mạnh mềm” của một quốc gia, đó là: nền văn hoá, hệ giá trị và hệ thống chính sách. “Sức mạnh cứng” và “sức mạnh mềm” có khả năng hỗ trợ làm tăng ảnh hưởng cho nhau. “Sức mạnh cứng” có thể giúp phát huy “sức mạnh mềm”, làm cho “sức mạnh mềm” trở nên hấp dẫn.
Nye đã phát triển thuật ngữ “sức mạnh thông minh/quyén lực thông minh” (smart power) vào năm 2004, dé chống lại quan niệm chỉ riêng sực mạnh mêm là đủ đê tạo ra chính sách đôi ngoại hiệu quả. Nye, sức mạnh thông minh là khả năng tác động đến người khác thông qua việc kết hợp các tài nguyên sức mạnh cứng và sức mạnh mềm thành các chiến lược hiệu quả dé đạt kết quả mong muốn. Hướng vận dụng và phạm vi khái niệm: Sau khi xâu chuỗi các khái niệm trên, tác giả luận văn tập trung vào khái niệm văn hóa hiệu theo nghĩa rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hướng nội dung chủ yếu của luận văn vào việc khai thác khái niệm ngoại giao văn hóa theo hướng tiếp cận sức mạnh mềm của Hàn Quốc qua việc sử dụng linh hoạt các hoạt động chính tri, kinh tế, văn hóa, trong đó ý nghĩa văn hóa được nhắn mạnh hơn, nhằm tạo ra những tác động tích cực đối với CHDCND Triều Tiên dé đạt tới mục tiêu hòa dịu hợp tác giữa hai miền. Van đề NGVH của Hàn Quốc đối với CHDCND Triều Tiên có những nét đặc thù, nếu xét về nội dung có nhiều điểm tương đồng, đồng thời cũng có yếu tố khác biệt với NGVH của Hàn Quốc đối với các khu vực và quốc gia khác, cụ thê như sau: Xét về điểm tương đồng, NGVH của Hàn Quốc đối với các nước Mỹ, Nhật, Nga, Trung Quốc hay khu vực EU, ASEAN.
cũng như đối với CHDCND Triều Tiên đều nhằm quảng bá và nâng cao ảnh hưởng văn hóa, tăng cường sức mạnh mềm của Hàn Quốc trên bình diện quốc gia - quốc gia và quốc gia - khu vực, với vị thé là một Hàn Quốc có nên kinh tế phát triển hàng dau thé giới. Về điểm khác biệt, do đặc thù của nền chính trị CHDCND Triều Tiên (họ luôn coi Hàn Quốc là Nam Triều Tiên - một nửa đất nước của mình), thường dị ứng và tay chay hầu như tat cả sản phẩm văn hóa của Hàn Quốc, thậm chí coi đó là ý đồ chính trị phản động, xấu xa. Dù vậy, tuy là hai quốc gia trên bán đảo Triều Tiên, nhưng Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên là cùng một dân tộc, có cùng một nguồn gốc lịch sử, dùng chung một ngôn ngữ, nên quá trình quảng bá các nội dung văn hóa nghệ thuật, phim ảnh, âm thực, trang phục. Vậy nên chính sách NGVH của Hàn Quốc coi CHDCND Triều Tiên là người anh em, ngoài mục đích quảng bá, giới thiệu về đất nước Hàn Quốc, còn có mục đích tô đậm sự đồng nhất về lịch sử va văn hóa, nhằm thé hiện tinh thần chủ động bắt tay hợp tác hòa giải dân tộc.
18 Với ý nghĩa rộng của khái niệm văn hóa, nhiều chính sách và hoạt động ngoại giao của Hàn Quốc đối với CHDCND Triều Tiên cũng có thé hướng theo cách hiểu riêng, đó là các hoạt động NGVH đặc thù do phía Hàn Quốc hoạch định và thực hiện như: thời kỳ Tổng thống Park Chung Hee (1961 - 1979) đã từ bỏ mục tiêu “Bắc tiến” dùng vũ lực của thời kỳ Tổng thống tiền nhiệm Lee Seung Man, chuyên hướng sang quan điểm “Thôn tính CHDCND Triều Tiên bằng kinh tế chứ không bằng quân sự”. Vai trò của ngoại giao văn hóa NGVH đảm nhiệm nhiều vai trò tích cực trên các lĩnh vực an ninh chính trị, kinh tế thương mại, văn hóa nghệ thuật. Trong nhiều trường hợp, NGVH được coi là cầu nối hoặc chất xúc tác thúc đây quan hệ chính trị và kinh tế của một quốc gia với bên ngoài; đồng thời nó cũng có vai trò góp phần, hỗ trợ tháo gỡ các khó khăn, trở ngại trong quan hệ chính trị, an ninh, kinh té giữa các đối tác.