phần mở đầu và kết luận, danh sách phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài; Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer tại ã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; Chƣơng 3: Công tác xã hội cá nhân trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với LĐNC người Khmer và đề xuất các giải pháp. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên c u Trong những năm gần đây ở Việt Nam, nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ việc làm, hỗ trợ sinh kế cho các nhóm đối tƣợng yếu thế, dƣới nhiều góc nhìn khác nhau nhƣ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình di cƣ, vấn đề thích nghi và trải nghiệm hội nhập xã hội.Các vấn đề về việc làm cho lao động nhập cƣ nói chung và LĐNC ngƣời Khmer nói riêng luôn nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nƣớc. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, học viên lựa chọn và phân tích các đề tài nghiên cứu có liên quan phân chia theo hai chủ đề chính đó là những nghiên cứu về các chính sách hỗ trợ đối với đời sống của ngƣời Khmer, chủ đề thứ hai là thực trạng đời sống của LĐNC ngƣời Khmer.1 Nghiên cứu các chính sách hỗ trợ đối với đời sống của người Khmer Ở nhóm chủ đề thứ nhất, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thịnh (2015): “Hiệu quả chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc Khmer vùng tây nam bộ của Đảng và Nhà nước ta” nghiên cứu đánh giá vài nét về chủ trƣơng chính sách của Đảng, nhà nƣớc đối với đồng bào dân tộc Khmer và những khó khăn, thách thức đối với họ, Đồng thời, đƣa ra những khuyến nghị nhằm phát huy những hiệu quả các chính sách của Nhà nƣớc đối với đồng bào dân tộc Khmer.
Tác giả đã đề cập đến những khó khăn mà ngƣời Khmer thƣờng gặp trong việc tiếp cận chính sách của nhà nƣớc nhƣ xuất phát điểm thấp, thƣờng sinh sống ở vùng sâu, vùng xa cƣ trú thành những cụm dân cƣ nhƣ phum, sóc biệt lập với cộng đồng, không biết tiếng phổ thông nên khả năng hòa nhập cộng đồng còn hạn chế, phát triển kinh tế còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, thiếu vốn sản xuất, quy mô canh tác nhỏ, trình độ sản xuất lạc hậu, chủ yếu tự cung tự cấp dẫn đến thu nhập và đời sống khó khăn. Chất lƣợng nguồn nhân lực thấp chƣa đáp ứng yêu cầu của kinh tế hàng hóa, công tác đào tạo và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc mặc dù có quan tâm nhƣ hiệu quả chƣa cao. Kết cấu hạ tầng còn nhiều khó khăn yếu kém, thu nhập và mức sống còn nhiều khó khăn nên tích lũy đầu tƣ thấp.
11 Đối với nghiên cứu của Phạm Hoàng Minh (2016) “Đào tạo nghề, tạo việc làm cho người Khmer trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”. Việc giáo dục cho đồng bào Khmer đƣợc các cấp chính quyền quan tâm, thể hiện ở nguồn kinh phí giáo dục ngày càng tăng, xây dựng cơ sở hạ tầng thêm cho giáo dục và các chính sách ƣu đãi cho hộ nghèo trong việc miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác cho nhà trƣờng, nghiên cứu tại tỉnh Kiên Giang có 3 trƣờng dân tộc nội trú cấp huyện áp dụng cho học sinh dân tộc Khmer có hộ khẩu đặc biệt khó khăn (theo chƣơng trình 135), các dự án viện trợ cho học sinh ngƣời Khmer để các em học tốt hơn, chùa Khmer cũng tổ chức dạy chữ Khmer. Tuy nhiên, xét về góc độ tiếp cận giáo dục của ngƣời Khmer kết quả còn nhiều hạn chế do điều kiện sống làm ăn còn nhiều khó khăn, kiến thức và tầm hiểu biết có hạn đã tiếp cận rất ít với hệ thống giáo dục, con em của họ có trình độ học vấn thấp thƣờng ở cấp 1 hoặc bỏ học dở dang ở cấp 1. Trình độ học vấn là nhân tố quan trọng giúp ngƣời nghèo tiếp thu khoa học kỹ thuật tốt có cơ hội việc làm tốt hơn, Phần lớn họ là lao động nghèo, không có vốn, không có đất hoặc ít đất sản xuất nên phải làm thuê kiếm sống, việc làm không ổn định.
Họ thƣờng không quan tâm lắm đến học chữ, học nghề cho bản thân. Theo tác giả nguyên nhân nghèo đói của ngƣời Khmer chủ yếu là do thiếu tƣ liệu sản xuất, vốn sản xuất, không có đất sản xuất, Do trình độ học vấn thấp, chƣa thành thạo tiếng Việt từ đó khó tiếp thu khoa học kỹ thuật trong các chƣơng trình dự án xóa đói giảm nghèo, ít tiếp cận với chính sách đào tạo nghề khó tìm đƣợc công việc ổn định. Chƣa thích ứng với cơ chế thị trƣờng, chƣa thích nghi với quy luật cạnh tranh, sản xuất hàng hóa. Mất cân đối trong thu chi dẫn đến thực trạng ăn trƣớc trả sau, vay nặng lãi, bán nông sản non, Kết cấu hạ tầng thấp, nhà ở tạm bợ chi phí đi lại sửa chữa nhà ở khá tốn kém.
Thƣờng xuyên chịu thiên tai, thất mùa, Tác giả cũng đánh giá một số bất cập trong công tác đào tạo nghề đó là các cơ sở dạy nghề phân bổ không đồng đều chủ yếu ở thành thị, trang thiết bị phục vụ học tập còn thiếu thốn lạc hậu, chƣơng trình đào tạo không đảm bảo mặt bằng kiến thức theo chuẩn mực chung, quy trình đào tạo phƣơng pháp giảng dạy còn thiên về lý thuyết. Đội ngũ giáo viên dạy nghề vừa thiếu về số lƣợng vừa yếu về trình độ học vấn, tay nghề, kém hiểu biết về công nghệ mới. 12 Cũng liên quan đến chính sách hỗ trợ đối với ngƣời Khmer, trong nghiên cứu “Việc làm cho người Khmer, giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” của tác giả Nguyễn Hồng Hà (2017) đã tìm ra đƣợc các yếu tố khác ngoài việc làm tác động đến mức sống của ngƣời Khmer nhƣ trình độ học vấn, tỷ lệ phụ thuộc, kinh nghiệm của chủ hộ, diện tích đất, tham gia lễ hội. trong đó, nghề nghiệp, trình độ văn hóa và tỷ lệ phụ thuộc là những yếu tố có tác động nhiều nhất đến mức sống của đồng bào Khmer tại tỉnh Trà Vinh.
Qua đó, tác giả hàm ý chính sách đào tạo nghề và chính sách hỗ trợ đặc thù của nhà nƣớc dành cho đối tƣợng này. Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thảo (2016) trong nghiên cứu “Chú trọng tính thiết thực trong nội dung dạy nghề cho phụ nữ Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long theo hình thức giáo dục thường uyên”. Ngoài đặc điểm về văn hóa tin thần và ngôn ngữ thì Phụ nữ nói riêng và đồng bào dân tộc Khmer vùng đồng bằng Sông Cửu Long nói chung sống thiên về đời sống tinh thần hơn là vật chất, tin vào số phận, có phƣớc mới đƣợc làm giàu nên thƣờng quan tâm việc làm phƣớc, tích đức hơn là việc học hỏi để nâng cao hiệu quả lao động sản xuất và tích cốp của cải làm giàu, đời sống còn nhiều khó khăn nên nhu cầu, động cơ học nghề của phụ nữ Khmer chƣa cao. Thiếu động cơ học tập là rào cản rất lớn của chính bản thân phụ nữ Khmer trong việc học nghề.
Qua đó tác giả đã đƣa ra một số biện pháp đảm bảo tính thiết thực của nội dung doanh nghiệp cho phụ nữ Khmer đồng bằng Sông Cửu Long phù hợp cho phụ nữ Khmer, dễ dàng cập nhật nội dung, cũng nhƣ đáp ứng nhu cầu của học viên, theo đó mô hình này sẽ tiếp cận theo năng lực thực hiện, dựa trên mô tả và phân tích công việc, chú trọng vào những gì mà ngƣời học có thể làm đƣợc tại nơi là việc từ đó hình thành nên những danh mục kỹ năng nghề cần thiết. Một nghiên cứu về tình trạng nghèo của ngƣời Khmer đồng bằng Sông Cửu Long của nhóm tác giả Diệp Thanh Tùng, Dƣơng Thị Tuyết Anh, Lâm Thị Mỹ Lan, Phạm Vũ Bằng (2017) về “Tình trạng nghèo của người Khmer ở vùng nông thôn đồng bằng Sông Cửu Long và các yếu tố tác động” bằng các phƣơng pháp phân tích và thu thập dữ liệu điều tra qua 480 hộ Khmer ở đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy thu nhập bình quân của ngƣời Khmer thấp hơn nhiều, thậm 13 chí thấp hơn so với thu nhập trung bình của hộ trong toàn vùng cách thời điểm nghiên cứu bốn năm trƣớc. Diện tích đất nông ngiệp bình quân trên hộ hạn hẹp và trình độ lao động thấp nên nguồn thu nhập của họ phụ thuộc phần lớn từ làm công, làm thuê qua các công việc đòi hỏi ít kỹ năng, thu nhập thấp. Kết quả phân tích cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ, số lao động trong hộ có tác động tích cực đến thu nhập của hộ, mặc dù hộ có chủ hộ là nữ vẫn là nhóm hộ dễ bị tổn thƣơng hơn.
Ngoài ra khả năng của hộ trong việc tiếp cận và sử dụng đất, tiếp cận hạ tầng và tín dụng đều có tác động tích đến thu nhập và làm giảm xác suất rơi vào nhóm hộ nghèo. Nhóm tác giả cũng đã ngụ ý chính sách cần hƣớng đến mục tiêu đào tạo phát triển lực lƣợng lao động, tăng cƣờng khả năng tiếp cận hạ tầng và các chính sách tín dụng, thúc đẩy đa dạng hóa các điều kiện thu nhập của hộ trong điều kiện tiếp cận hạn chế về đất đai, biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng tiêu cực trong phạm vi toàn vùng. Nghiên cứu “vấn đề tiếp cận chính sách nhà nước của người Khmer tại huyện Trà Cứu của tỉnh Trà Vinh” của tác giả Ngô Thị Phƣơng Lan (2017) cũng đã đánh giá những tác động của chính sách trong việc nâng cao đời sống của ngƣời Khmer tại huyện Trà Cứu, tỉnh Trà Vinh. Nghiên cứu cho thấy trong thời gian qua Đảng và Nhà nƣớc rất quan tâm đến đời sống của các dân tộc thiểu số trong đó có ngƣời Khmer, có nhiều chính sách đƣợc thực thi ở các vùng nông thôn, vùng có điều kiện khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và đã đạt đƣợc nhiều thành tựu nhất định.
Tuy nhiên, việc ít tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội, rào cảng ngôn ngữ tiếng Việt và rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là yếu tố đã hạn chế phần nào tính hiệu quả của việc thực thi các chính sách.