phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, và danh mục bảng biểu, nội dung chính của đề tài đƣợc thể hiện ở 3 chƣơng: Chƣơng I: Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách hỗ trợ tài chính cho khu vực doanh nghiệp này Chƣơng II: Thực trạng áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong những năm gần đây Chƣơng III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nỗ lực hết sức để có thể có đƣợc những thông tin mới nhất, thu thập và phân tích những ý kiến, quan điểm, đánh giá của nhiều chuyên gia, vận dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau: tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh. để hoàn thành đề tài này một cách tốt nhất. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và năng lực, khóa luận này không tránh khỏi một số khiếm khuyết, em rất mong đƣợc sự đóng góp, chia sẻ quan điểm từ thầy cô cũng nhƣ bạn đọc. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo Thạc sĩ Vũ Huyền Phƣơng – Giảng viên khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng Hà Nội, ngƣời đã nhiệt tình giúp đỡ cho em những chỉ dẫn quý báu trong suốt quá trình triển khai đề tài.
Em cũng xin cảm ơn các bác, anh chị trong Cục Phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ Kế hoạch Đầu tƣ đã nhiệt tình giúp đỡ em tìm kiếm tài liệu để hoàn thiện đề tài. Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến những thầy cô giáo, gia đình và bạn bè, những ngƣời đã giúp đỡ, động viên em rất nhiều trong quá trình hoàn thành khóa luận này. Sinh viên: Vũ Thị Quỳnh Anh Lớp Anh 3 – K44A – KT&KDQT. CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO KHU VỰC DOANH NGHIỆP NÀY I.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một khái niệm để chỉ chung những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé cả về nguồn vốn và số lượng lao động hay doanh thu [58]; tuy vậy thì đây lại là loại hình doanh nghiệp chiếm đại đa số trong tổng số các công ty đang hoạt động ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Chính vì thế mà các quốc gia luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển. Hiện nay trên thế giới vẫn chƣa có một tiêu chí nào chung nhất để xác định thế nào là một doanh nghiệp lớn, thế nào là một DNVVN.
Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội trong mỗi thời kỳ, cũng nhƣ tính chất đặc thù của từng ngành nghề cụ thể mà mỗi nƣớc này sẽ có những tiêu chí khác nhau để xác định doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Nhìn chung, có thể phân loại doanh nghiệp theo 2 loại tiêu chí cơ bản. Đó là: tiêu chí định tính và tiêu chí định lƣợng [1]. Tiêu chí định tính: phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí định tính, ngƣời ta chủ yếu dựa trên những yếu tố không lƣợng hóa đƣợc nhƣ vị thế độc quyền trên thị trƣờng, trình độ chuyên môn hóa sản xuất, cơ cấu quản lý doanh nghiệp…Theo đó, các DNVVN là những doanh nghiệp không có vị thế độc quyền trên thị trƣờng, khả năng chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý.
ít…Nhƣợc điểm của tiêu thức phân loại này là khó xác định trong thực tế, do vậy mà ít đƣợc các quốc gia sử dụng. Tiêu chí định lượng: theo tiêu chí này, doanh nghiệp sẽ đƣợc phân loại dựa trên số lao động, giá trị tài sản hay vốn, và doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong đó: - Số lao động có thể là số lƣợng lao động đƣợc thuê mƣớn thƣờng xuyên và không thƣờng xuyên của doanh nghiệp (theo hợp đồng hoặc theo thời vụ); - Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp để phân loại; - Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm hoặc tổng giá trị gia tăng trong một năm của doanh nghiệp. Do tính chất lƣợng hóa đƣợc và dễ đánh giá của tiêu chí định lƣợng nên ngày nay hầu hết các nƣớc đều sử dụng tiêu chí này để phân loại các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số nƣớc trên thế giới Mặc dù đều sử dụng tiêu chí định lƣợng để phân loại doanh nghiệp nhƣng giữa các quốc gia vẫn có những quy định rất khác nhau về DNVVN. Theo một báo cáo kết quả khảo sát DNVVN các nƣớc APEC, có đến 18/20 nƣớc phân loại doanh nghiệp theo số lƣợng lao động; 3/20 nƣớc phân theo vốn đầu tƣ; 4/20 nƣớc phân theo tổng tài sản và 4/20 nƣớc phân theo tiêu chí doanh thu. Có thể tham khảo tiêu chí phân loại của một số nƣớc trong Bảng 1 dƣới đây:. Bảng 1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp của một số nƣớc APEC phục vụ cho điều tra thống kê Nƣớc/Vùng lãnh thổ Số lao động Vốn đầu tƣ Tổng tài sản Doanh thu Úc x Chi Lê x x Hồng Kông x Inđônêxia x x Nhật Bản x x Hàn Quốc x Malaysia x x Papua Niu Ghinê x Pêru x Philippin x x Nga x Singapore x x Đài Loan x x Việt Nam x x Nguồn: Profile SMEs and SME issues in APEC in 1990 – 2000 Cụ thể nhƣ ở Thái Lan, dựa trên tiêu chí số lƣợng lao động sử dụng, doanh nghiệp nhỏ đƣợc quy định là doanh nghiệp có từ 10 đến 49 lao động; doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 99 lao động; và doanh nghiệp quy mô khá có từ 100 – 199 lao động, doanh nghiệp lớn có quy mô lao động từ 200 lao động trở lên.
Hàn Quốc cũng phân loại theo tiêu chí số lƣợng lao động, nhƣng khác Thái Lan về mức giới hạn nhƣ sau: trong các ngành sản xuất, những doanh nghiệp có từ 1 đến 1000 ngƣời làm thuê thì nằm trong diện DNVVN; Còn ở các ngành dịch vụ, doanh nghiệp đƣợc gọi là vừa và nhỏ nếu có từ 1 đến 20 ngƣời làm thuê [7]. Ở Nhật Bản, tùy thuộc vào từng lĩnh vực, ngành nghề của doanh nghiệp cũng nhƣ trong các thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau thì việc phân loại doanh nghiệp cũng đƣợc quy định khác nhau. Ở giai đoạn thứ nhất của thời kỳ chuyển đổi kinh tế, DNVVN của Nhật Bản đƣợc quy định là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ không quá 100 triệu Yên, số lao động không quá 300 trong lĩnh vực công nghiệp. Trong lĩnh vực bán buôn, là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ không quá 30 triệu Yên, số lao động không quá 100.
Trong lĩnh vực bán lẻ và dịch vụ, là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ không quá 10 triệu Yên cũng nhƣ số lao động không quá 50. Tiếp đó, kể từ năm 1999, theo Luật mới về DNVVN, các tiêu chí trên đã có sự điều chỉnh theo hƣớng tăng mức vốn quy định (các mức mới tƣơng ứng là 300, 100 và 50 triệu Yên), còn số lƣợng lao động không thay đổi. Ngoài ra luật mới còn bổ sung thêm định nghĩa riêng về “doanh nghiệp nhỏ”. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ trong công nghiệp (sản xuất, xây dựng và các ngành khác) là doanh nghiệp có số lao động không quá 20; trong thƣơng mại và dịch vụ số lao động không quá 5 [44].
Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc phân loại DNVVN đƣợc dựa trên tổng số vốn đăng ký và số lao động. Trong những năm đầu, khi Nhà nƣớc mới ban hành văn bản pháp luật đầu tiên về định hƣớng chiến lƣợc và chính sách phát triển DNVVN Việt Nam, DNVVN đƣợc quy định là những doanh nghiệp có số vốn dƣới 5 tỷ đồng và số lƣợng công nhân dƣới 200 ngƣời. Kể từ năm 2001 trở đi, căn cứ theo tình hình phát triển kinh tế, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ đã chính thức đƣa ra định nghĩa về DNVVN nhƣ sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngƣời”[17]. Ngoài ra, DNVVN ở Việt Nam còn đƣợc phân thành 3 nhóm: doanh nghiệp siêu nhỏ (gồm không quá 9 nhân công), doanh nghiệp nhỏ (gồm không.
quá 49 nhân công), doanh nghiệp vừa (gồm không quá 299 nhân công ). Đây là cách phân chia dựa trên dữ liệu của Tổng cục thống kê, sự khác biệt so với quy định của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP là rất nhỏ. Đặc điểm chung của doanh nghiệp vừa và nhỏ Mặc dù DNVVN ở mỗi quốc gia lại có những tiêu chí phân loại rất khác nhau nhƣng về cơ bản, DNVVN đều có những đặc điểm chung, cả điểm mạnh cũng nhƣ điểm yếu trong quá trình hoạt động và phát triển của mình. Cụ thể nhƣ sau: 2.
Ƣu điểm: - Các DNVVN được tạo lập khá dễ dàng, có bộ máy quản lý gọn nhẹ và có thể hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp Đây là một trong những đặc điểm cơ bản mà cũng là lợi thế của các DNVVN so với các tập đoàn, công ty lớn. Bởi lẽ, chỉ cần một số vốn ban đầu hạn chế, cùng với mặt bằng sản xuất không lớn, thiết bị máy móc giản đơn là một doanh nghiệp có thể đƣợc thành lập và đi vào hoạt động. Đồng thời, nhận thức đƣợc tầm quan trọng của loại hình doanh nghiệp này đối với nền kinh tế, chính phủ các nƣớc cũng tạo những điều kiện thuận lợi nhất nhằm khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân có cơ hội lập nghiệp. Điều này đƣợc minh chứng cụ thể qua số lƣợng các DNVVN tăng lên đều đặn hàng năm và chiếm đại bộ phận doanh nghiệp ở các quốc gia hiện nay.
Bên cạnh đó, với quy mô nhỏ, số lƣợng nhân công ít, các DNVVN thƣờng có cơ cấu quản lý doanh nghiệp khá gọn nhẹ. Chủ các doanh nghiệp hoàn toàn có thể dễ dàng đƣa ra các quyết định kinh doanh của mình, ít tốn kém cả về mặt thời gian và tiền bạc.