Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong những năm gần đây – Thực trạng và giải pháp" được tác giả Vũ Thị Quỳnh Anh thực hiện năm 2009 tại Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Đề tài bắt nguồn từ vai trò ngày càng rõ nét của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong việc đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội và tạo việc làm cho xã hội. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội về thị trường và chuyển giao công nghệ, nhưng đồng thời đặt DNVVN vào môi trường cạnh tranh gay gắt với các tập đoàn nước ngoài có ưu thế vượt trội về quy mô vốn, trình độ quản lý và công nghệ.

Trong giai đoạn 2007 - 2008, nền kinh tế Việt Nam trải qua biến động kinh tế vĩ mô lớn: lạm phát tăng cao buộc Ngân hàng Nhà nước phải thắt chặt tiền tệ, nâng lãi suất cơ bản từ 8,75%/năm lên 12% và 14%/năm, khiến chi phí vay vốn tăng vọt. Đến cuối năm 2008 và đầu năm 2009, suy thoái kinh tế toàn cầu làm suy giảm tổng cầu tiêu dùng, đẩy nhiều DNVVN vào tình trạng đình trệ sản xuất hoặc đứng trước nguy cơ giải thể. Trước bối cảnh đó, các công cụ hỗ trợ tài chính từ Nhà nước trở thành yếu tố then chốt để duy trì hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DNVVN, xác định các đặc điểm nội tại, vai trò kinh tế - xã hội và làm rõ khung chính sách hỗ trợ tài chính cùng kinh nghiệm quốc tế liên quan.
  2. Phân tích thực trạng áp dụng hệ thống chính sách hỗ trợ tài chính của Nhà nước đối với DNVVN tại Việt Nam từ năm 2000 đến đầu năm 2009, chỉ rõ những kết quả đạt được và các rào cản tồn tại.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ tài chính cho DNVVN trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống chính sách hỗ trợ tài chính của Chính phủ dành cho DNVVN, bao gồm bảo lãnh tín dụng, chính sách ưu đãi thuế, các gói hỗ trợ lãi suất ngân hàng, tín dụng đầu tư phát triển và hỗ trợ xuất khẩu. Phạm vi không gian tập trung tại Việt Nam, kết hợp khảo sát chính sách tại một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát từ năm 2000 đến tháng 5 năm 2009, gắn liền với mốc ban hành khung pháp lý đầu tiên tại Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đến các gói kích cầu kinh tế đầu năm 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên các tiêu chí phân loại doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Về mặt lý thuyết, việc xác định DNVVN được chia thành hai nhóm:

  • Tiêu chí định tính: Căn cứ vào các yếu tố phi lượng hóa như vị thế độc quyền trên thị trường, mức độ chuyên môn hóa sản xuất và cơ cấu bộ máy quản lý.
  • Tiêu chí định lượng: Dựa trên số lượng lao động, giá trị tài sản/vốn đầu tư hoặc doanh thu/lợi nhuận hàng năm.

Tại Việt Nam, định nghĩa pháp lý được nghiên cứu căn cứ vào Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001: DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người (trước năm 2001 quy định là vốn dưới 5 tỷ đồng và dưới 200 lao động). Dựa theo dữ liệu Tổng cục Thống kê, DNVVN còn được chia nhỏ thành doanh nghiệp siêu nhỏ (dưới 10 lao động), doanh nghiệp nhỏ (từ 10 đến 49 lao động) và doanh nghiệp vừa (từ 50 đến 299 lao động).

Chính sách hỗ trợ tài chính cho DNVVN được tác giả định nghĩa là chính sách của chính phủ nhằm cung cấp và mở rộng nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp, thông qua hai phương thức: hỗ trợ gián tiếp (tạo lập môi trường pháp lý, hạ tầng thông tin, chuẩn mực kế toán) và hỗ trợ trực tiếp (công cụ thuế, tín dụng ưu đãi, bù lãi suất và bảo lãnh tín dụng).

Nhóm công cụ hỗ trợ tài chính Cơ chế tác động trực tiếp Mục tiêu thực tiễn
Quỹ bảo lãnh tín dụng Bảo lãnh các khoản vay không đủ tài sản thế chấp Giải quyết nút thắt thiếu tài sản bảo đảm tại ngân hàng
Ưu đãi thuế Miễn, giảm thuế TNDN, khấu hao nhanh, giãn thời hạn nộp thuế Tăng khả năng tự tích lũy vốn nội bộ cho doanh nghiệp
Hỗ trợ lãi suất Ngân sách bù một phần lãi suất vay thương mại (4%/năm) Giảm chi phí vốn, hạ giá thành sản phẩm trong khủng hoảng
Tín dụng đầu tư và xuất khẩu Cho vay trung và dài hạn qua tổ chức tín dụng chính sách Tài trợ các dự án mở rộng, đổi mới máy móc thiết bị

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả và so sánh đối chiếu kinh tế. Tác giả khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ các ấn phẩm điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê (giai đoạn 2001 - 2007), số liệu của Cục Phát triển DNVVN thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các báo cáo chuyên đề của Hiệp hội DNVVN, cùng tài liệu của các tổ chức quốc tế như APEC, Sách trắng DNVVN của Nhật Bản (2008) và Đài Loan (2007).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách hỗ trợ tài chính cho khu vực doanh nghiệp này

Chương I phân tích toàn diện các đặc tính hai mặt của DNVVN:

  • Ưu điểm: Chi phí thành lập và chi phí cố định thấp; bộ máy điều hành gọn nhẹ, ra quyết định nhanh; nhạy bén với biến động nhu cầu thị trường; sẵn sàng đầu tư vào các địa bàn nông thôn hoặc lĩnh vực mới có mức độ rủi ro cao; giải quyết việc làm tại chỗ và duy trì quan hệ lao động thân thiện.
  • Nhược điểm: Năng lực vốn tự có hạn chế; gặp nhiều bất lợi trong mua sắm nguyên vật liệu đầu vào và phân phối sản phẩm do quy mô nhỏ; máy móc và công nghệ kỹ thuật lạc hậu (thường chậm hơn từ 2 đến 3 thế hệ công nghệ); trình độ quản lý và kỹ năng lao động chưa cao; thiếu hụt thông tin thị trường và cơ chế hoạt động tiềm ẩn rủi ro phá sản lớn.
Nền kinh tế Tiêu chí số lao động Tiêu chí vốn đầu tư Tiêu chí tổng tài sản Tiêu chí doanh thu
Úc x
Chi Lê x x
Indonesia x x
Nhật Bản x x
Hàn Quốc x
Malaysia x x x
Philippines x x
Thái Lan (10 - 199 lao động) x
Việt Nam (Nghị định 90/2001/NĐ-CP) x x

Chương I cũng đúc kết kinh nghiệm quốc tế trong việc can thiệp tài chính:

  • Malaysia: Phân chia chính sách thành ưu đãi thuế và phi thuế. Doanh nghiệp được khấu trừ toàn bộ chi phí nghiên cứu khoa học và tính gấp đôi chi phí đào tạo nhân công khi xác định thu nhập chịu thuế; cấp các khoản tài trợ dự án phát triển kinh doanh (tối đa 40.000 RM) và cải tiến công nghệ, ứng dụng phần mềm ERP (tối đa 500.000 RM).
  • Thái Lan: Vận hành Tổng công ty Bảo lãnh Tín dụng Doanh nghiệp Nhỏ (SBCG) do Bộ Tài chính nắm 93% vốn, bảo lãnh tối đa 50% cho các khoản vay không có tài sản thế chấp; thành lập Ngân hàng dành riêng cho DNVVN với 65 chi nhánh.
  • Hàn Quốc: Thực hiện 5 nhóm chính sách đồng bộ, quy định các ngân hàng thương mại phải dành tỷ lệ vốn tối thiểu 25% để cấp tín dụng cho DNVVN; miễn giảm thuế 50% - 100% trong 4 năm đầu và 20% - 30% trong 2 năm tiếp theo.
  • Trung Quốc: Ban hành Luật Khuyến khích DNVVN, hình thành Quỹ Đổi mới DNVVN và các quỹ bảo lãnh địa phương; tuy nhiên bài học chỉ ra việc đánh giá rủi ro kém dẫn đến thất thoát vốn và việc Quỹ Bảo lãnh Tứ Xuyên đòi hỏi tỷ lệ ký quỹ thế chấp quá cao làm giảm hiệu quả tiếp cận.

Chương II: Thực trạng áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong những năm gần đây

Chương II phân tích thực trạng phát triển của DNVVN tại Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2008. Đến cuối năm 2008, DNVVN chiếm khoảng 95% trong tổng số 350.000 doanh nghiệp của cả nước, đóng góp 26% GDP và tạo việc làm cho khoảng 30% lực lượng lao động.

Chỉ tiêu thống kê cơ cấu DNVVN Năm 2000 Năm 2006 Năm 2007
Tỷ trọng DNVVN quy mô vốn từ 1 - 5 tỷ đồng 25,0% 50,0% -
Tỷ trọng DNVVN quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng 54,0% 29,0% -
Tỷ lệ hình thức Doanh nghiệp tư nhân 36,0% 22,0% 17,2%
Tỷ lệ hình thức Công ty Trách nhiệm hữu hạn 56,0% 55,3% 43,8%
Tỷ lệ hình thức Công ty Cổ phần 8,0% 20,7% 25,0%
Doanh thu thuần trung bình / lao động 206 triệu đồng (2001) 339 triệu đồng -

Về phân bổ địa lý và ngành nghề, doanh nghiệp thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất (41% năm 2006), trong khi công nghiệp chế biến chiếm 24,5%. Doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn, riêng TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2007 có 82.591 doanh nghiệp đăng ký (chiếm hơn 30% cả nước), Hà Nội có 53.339 doanh nghiệp, trong khi các tỉnh miền núi như Bắc Kạn chỉ có 71 doanh nghiệp.

Về tình hình khó khăn tài chính, số liệu khảo sát DNVVN năm 2005 tại 30 tỉnh, thành phố cho thấy 78,4% doanh nghiệp gặp trở ngại khi phát triển, trong đó khó khăn về tài chính đứng đầu với 66,9% số doanh nghiệp xác nhận. Kết quả điều tra năm 2007 của Cục Phát triển Doanh nghiệp chỉ rõ: 32,38% doanh nghiệp tiếp cận được vốn ngân hàng thương mại; 35,24% khó tiếp cận; và 32,38% hoàn toàn không tiếp cận được. Nguyên nhân do vốn chủ sở hữu thấp, thiếu tài sản thế chấp, báo cáo tài chính thiếu minh bạch và không lập được phương án kinh doanh khả thi.

Khóa luận tổng kết hệ thống chính sách hỗ trợ tài chính đã triển khai:

  • Môi trường tài chính và các kênh vốn phi ngân hàng: Sửa đổi quy chế cho vay, nới lỏng điều kiện bảo đảm tiền vay, vận hành Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC), ban hành Chuẩn mực kế toán cho DNVVN; tạo lập khung pháp lý cho hoạt động cho thuê tài chính (Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP) và hoạt động bao thanh toán (Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN).
  • Quỹ Bảo lãnh tín dụng: Vận hành theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg và Quyết định số 115/2004/QĐ-TTg, bảo lãnh tối đa 80% phần chênh lệch giữa giá trị khoản vay và tài sản thế chấp (ngân sách tỉnh tham gia tối đa 30% vốn điều lệ, phí bảo lãnh 0,8%/năm). Đến Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg, điều kiện được nới lỏng: doanh nghiệp chỉ cần có 10% vốn chủ sở hữu tham gia dự án, không bắt buộc thế chấp 30%, mức bảo lãnh tối đa nâng lên 100% nợ gốc và lãi phát sinh; đồng thời giao Ngân hàng Phát triển Việt Nam bảo lãnh cho các doanh nghiệp có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng và sử dụng dưới 500 lao động.
  • Chính sách ưu đãi thuế: Áp dụng Luật Đầu tư 2005 (khấu hao nhanh tài sản cố định, miễn thuế nhập khẩu máy móc thiết bị tạo tài sản cố định, chuyển lỗ tối đa 5 năm); Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 hạ thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25% từ ngày 01/01/2009. Thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP: giảm 30% thuế TNDN quý IV/2008 và cả năm 2009; giãn thời hạn nộp 9 tháng đối với 70% số thuế TNDN còn lại; tạm hoàn 90% thuế GTGT đầu vào cho hàng xuất khẩu khi chưa đủ chứng từ thanh toán; ân hạn 275 ngày nộp thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu.
  • Hỗ trợ lãi suất ngân hàng: Quyết định số 131/QĐ-TTg (ngày 23/01/2009) hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các khoản vay ngắn hạn sản xuất kinh doanh với thời hạn tối đa 8 tháng; Quyết định số 443/QĐ-TTg (ngày 04/04/2009) mở rộng hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các khoản vay trung và dài hạn mới đầu tư sản xuất kinh doanh, kết cấu hạ tầng với thời hạn tối đa 24 tháng (thực hiện từ 01/04/2009 đến 31/12/2011).
  • Tín dụng đầu tư và xuất khẩu: Chuyển giao từ Quỹ Hỗ trợ Phát triển sang Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) thành lập năm 2006 theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP. Cho vay trung và dài hạn theo lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng phí khoảng 1%/năm, mức lãi suất điều chỉnh đầu năm 2009 là 6,9%/năm (VND) và 5,4%/năm (ngoại tệ); khi kết hợp gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ, lãi suất thực tế của doanh nghiệp giảm xuống còn 2,9%/năm.
  • Các quỹ hỗ trợ tài chính chuyên biệt: Bãi bỏ Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu (Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg) để tuân thủ quy định cấm trợ cấp xuất khẩu trực tiếp của WTO; thực hiện giảm 20% - 50% tiền sử dụng đất theo Nghị định số 198/2004/NĐ-CP; vận hành Quỹ Phát triển Khoa học Công nghệ Quốc gia từ năm 2008 với cơ chế tài trợ 100% kinh phí nghiên cứu cơ bản và cho vay 0% hoặc lãi suất thấp đối với dự án đổi mới công nghệ.

Về kết quả thực tiễn, chính sách hỗ trợ kịp thời đã giúp khu vực dân doanh duy trì mức tăng trưởng 5% về giá trị sản xuất công nghiệp trong 3 tháng đầu năm 2009, trong khi khu vực kinh tế quốc doanh giảm 3,2%.

Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, khóa luận xác lập các nhóm giải pháp chính:

  • Hoàn thiện mô hình Quỹ Bảo lãnh tín dụng: Cải cách quy trình thẩm định dự án theo hướng chú trọng tính khả thi của phương án kinh doanh thay vì tài sản thế chấp; tăng cường nguồn vốn điều lệ cho các quỹ địa phương và quy định rõ cơ chế chia sẻ rủi ro giữa ngân hàng thương mại và quỹ bảo lãnh.
  • Nâng cao hiệu quả giám sát các gói hỗ trợ lãi suất và ưu đãi thuế: Triển khai kiểm tra dòng tiền giải ngân của gói hỗ trợ lãi suất 4% theo Quyết định 131 và Quyết định 443 nhằm bảo đảm nguồn vốn đến đúng địa chỉ sản xuất, ngăn chặn việc sử dụng vốn vay sai mục đích; phổ biến kịp thời các quy định giãn, giảm thuế của Nghị quyết 30/2008/NQ-CP.
  • Đa dạng hóa các kênh cung ứng vốn phi ngân hàng: Thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính để DNVVN tiếp cận thiết bị mới không cần thế chấp tài sản; mở rộng nghiệp vụ bao thanh toán nhằm giải phóng dòng tiền từ các khoản phải thu.
  • Nâng cao năng lực tài chính nội bộ của DNVVN: Chuẩn hóa chế độ kế toán theo Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ do Bộ Tài chính ban hành, lập báo cáo tài chính minh bạch, từ đó củng cố mức độ tín nhiệm khi tiếp cận các tổ chức tín dụng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận tổng hợp hệ thống các mốc chính sách hỗ trợ tài chính được Nhà nước ban hành trong giai đoạn 2000 - 2009:

Năm ban hành Văn bản pháp lý tiêu biểu Nội dung chính sách hỗ trợ tài chính
2001 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP Xác lập khung định nghĩa DNVVN; quy định cơ chế hỗ trợ tài chính
2001 Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg Ban hành Quy chế thành lập và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng
2004 Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN Ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng
2005 Luật Đầu tư 2005 Ưu đãi miễn thuế nhập khẩu máy móc, cho phép khấu hao nhanh
2006 Nghị định số 151/2006/NĐ-CP Thành lập VDB, thực hiện tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu
2008 Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP Giảm 30% thuế TNDN, giãn thời hạn nộp thuế 9 tháng, tạm hoàn thuế GTGT
2008 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp Hạ thuế suất phổ thông từ 28% xuống 25% (có hiệu lực từ 01/01/2009)
2009 Quyết định số 131/QĐ-TTg Hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các khoản vay ngắn hạn sản xuất kinh doanh
2009 Quyết định số 443/QĐ-TTg Mở rộng hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các khoản vay trung và dài hạn
2009 Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg Bãi bỏ điều kiện thế chấp 30%, nâng mức bảo lãnh tín dụng lên 100%

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa một cách chi tiết toàn bộ các kênh can thiệp tài chính của Chính phủ dành cho khu vực DNVVN tại thời điểm nhạy cảm của nền kinh tế (cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009). Khóa luận đã phân tích các chính sách kích cầu tài chính ngay khi các văn bản mới được ban hành (Quyết định 131, Quyết định 443, Quyết định 14), cung cấp cái nhìn thực tế về cơ chế vận hành của dòng vốn tín dụng chính sách đối với khu vực kinh tế tư nhân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian và khả năng tiếp cận dữ liệu tại thời điểm hoàn thành khóa luận (tháng 5/2009), nghiên cứu chưa đánh giá được toàn diện kết quả thực tế sau khi giải ngân gói hỗ trợ lãi suất trung và dài hạn (Quyết định số 443/QĐ-TTg mới ban hành tháng 4/2009) cũng như cơ chế bảo lãnh mới của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Tiếp tục theo dõi và đo lường định lượng tác động của gói kích thích kinh tế năm 2009 đối với khả năng phục hồi của DNVVN trong các năm tiếp theo; phân tích nguy cơ nợ xấu phát sinh tại các tổ chức tín dụng sau thời gian hết hạn hỗ trợ lãi suất; đánh giá thực chất hiệu quả hoạt động của các Quỹ Bảo lãnh tín dụng cấp tỉnh sau khi điều chỉnh điều kiện bảo lãnh.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên thuộc các ngành Kinh tế đối ngoại, Tài chính - Ngân hàng, Quản trị kinh doanh và Quản lý kinh tế khi nghiên cứu về chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và kinh tế doanh nghiệp. Phần nội dung có giá trị tham chiếu cao bao gồm:

  1. Bảng tổng hợp tiêu chí phân loại DNVVN tại các quốc gia thành viên APEC và các mô hình bảo lãnh, trợ cấp công nghệ tại Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc.
  2. Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ tín dụng, bảo lãnh và chính sách ưu đãi thuế của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009.
  3. Số liệu thống kê thứ cấp về thực trạng khó khăn tài chính và cơ cấu tổ chức của DNVVN Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam được xác định dựa trên những tiêu chí định lượng cụ thể nào?
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 quy định DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.

2. Khảo sát nhu cầu DNVVN năm 2005 và điều tra năm 2007 chỉ ra tỷ lệ tiếp cận vốn ngân hàng thương mại của doanh nghiệp là bao nhiêu?
Khảo sát năm 2005 tại 30 tỉnh thành cho thấy trở ngại về tài chính đứng đầu với 66,9% doanh nghiệp gặp khó khăn. Điều tra năm 2007 của Cục Phát triển Doanh nghiệp chỉ ra chỉ có 32,38% DNVVN tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng thương mại, 35,24% khó tiếp cận và 32,38% hoàn toàn không tiếp cận được.

3. Cơ chế hỗ trợ lãi suất 4%/năm theo Quyết định 131/QĐ-TTg và Quyết định 443/QĐ-TTg năm 2009 được áp dụng với điều kiện gì?
Quyết định số 131/QĐ-TTg hỗ trợ 4%/năm cho các khoản vay ngắn hạn phục vụ sản xuất kinh doanh từ ngày 01/02/2009 đến ngày 31/12/2009, thời hạn vay được hỗ trợ tối đa là 8 tháng. Quyết định số 443/QĐ-TTg mở rộng hỗ trợ lãi suất 4%/năm cho các khoản vay trung và dài hạn ký mới từ ngày 01/04/2009 đến ngày 31/12/2011 để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, thời hạn hỗ trợ tối đa là 24 tháng.

4. Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg đã nới lỏng điều kiện bảo lãnh tín dụng cho DNVVN như thế nào so với quy định trước đây?
Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg bãi bỏ yêu cầu doanh nghiệp phải có khoản thế chấp 30% giá trị khoản vay tại ngân hàng; doanh nghiệp chỉ cần có 10% vốn chủ sở hữu tham gia dự án. Mức bảo lãnh tối đa được nâng từ 80% phần chênh lệch giá trị khoản vay và tài sản thế chấp lên mức 100% nợ gốc và lãi phát sinh.

5. Vì sao Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu thành lập theo Quyết định số 195/1999/QĐ-TTg lại bị bãi bỏ trong giai đoạn 2006 - 2008?
Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu bị bãi bỏ do các hình thức trợ cấp tài chính trực tiếp cho hàng hóa xuất khẩu (như hỗ trợ bù lỗ mặt hàng xuất khẩu, thưởng kim ngạch) vi phạm các cam kết và quy định bắt buộc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mà Việt Nam là thành viên chính thức từ năm 2007.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Thị Quỳnh Anh đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2009. Nghiên cứu chỉ rõ tình trạng thiếu vốn, rào cản tài sản thế chấp và ảnh hưởng tiêu cực của biến động kinh tế vĩ mô đối với hoạt động của DNVVN. Các phân tích về gói hỗ trợ lãi suất 4%, nới lỏng cơ chế bảo lãnh tín dụng và ưu đãi thuế năm 2008 - 2009 mang lại cơ sở thực tế có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách kinh tế.