CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái luận về chính sách sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số Nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu về nội dung của đề tài, ta cần đi sâu tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến chính sách, sinh kế, sinh kế bền vững, dân tộc, dân tộc thiểu số, khung phân tích sinh kế bền vững và một số chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Một số khái niệm - Khái niệm về chính sách Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa… Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” [22] Như vậy, có thể hiểu chính sách là do Đảng và nhà nước đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó trong xã hội, trong một giai đoạn cụ thể, nhất định. Được thể hiên qua các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam; Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật. Chính sách dân tộc là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nước ta để giải quyết các vấn đề đang còn tồn tại trong đồng bào dân tộc như: vấn đề xóa đói – giảm nghèo; phát triển kinh tế - xã hội; phát triển cơ sở hạ tầng; y tế; giáo dục; phát triển nguồn nhân lực… trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm thu hẹp khoảng các giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các vùng khác trong cả nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững Trong mỗi một cộng đồng người, hay của toàn xã hội loài người đều mong muốn ổn định đời sống, được đảm bảo về an ninh, được phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo với mục tiêu lâu dài và bền vững.
Chính vì vậy sinh kế là hoạt động quan trọng trong đời sống con người và xã hội loài người nên khái niệm này rất được chú trọng và xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau. Theo các tác giả Lemons J. Như vậy sinh kế giúp đáp ứng các nhu cầu cần thiết của mỗi một con người trong đời sống hàng ngày, cũng chính là đảm bảo các nấc thang trong nhu cầu của cuộc sống. Thuyết nhu cầu của Maslow (1950).
Theo Maslow con người sinh ra và tồn tại luôn cần có 5 nhu cầu cơ bản (1) Nhu cầu sinh lý (Không khí, thức ăn, chỗ ở…); (2) Nhu cầu an toàn (an toàn, được bảo vệ…); (3) Nhu cầu xã hội (tình cảm, tình yêu…); (4) Nhu cầu được tôn trọng (tự tôn trọng, được công nhận, có địa vị xã hội…); (5) Nhu cầu tự khẳng định (tự phát triển và thể hiện tiềm năng…) [19]. Lý thuyết của Maslow nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần đáp ứng được các vấn đề này chính là tạo ra được các sinh kế, sinh kế bền vững cho con người. Ủy ban Brundtland về Môi trường và Phát triển (hay Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển – WCED) (WCED 1987:2-5) vấn đề sinh kế, sinh kế bền vững, được trình bày như sau: Sinh kế là toàn bộ dự trữ và lưu chuyển đầy đủ về lương thực và tiền mặt nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản. An ninh là việc đảm bảo quyền sở hữu, hoặc quyền tiếp cận các nguồn lực, và các hoạt động tạo thu nhập, bao gồm cả nguồn dự trữ và tài sản nhằm bù đắp những rủi ro, giảm thiểu biến động, đáp ứng nhu cầu dự phòng.
Sinh kế bền vững là việc duy trì và tăng cường việc tạo ra các nguồn lực trên cơ sở lâu dài. Một hộ gia đình có thể đảm bảo được vấn đề an ninh sinh kế bền vững theo nhiều cách thức khác nhau – thông qua việc sở hữu về đất đai, gia súc, cây trồng, qua quyền được chăn thả gia súc, đánh cá, săn bắn, hay quyền được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thu hoạch sản phẩm tự nhiên; qua quyền có việc làm ổn định với đảm bảo an sinh đầy đủ; hoặc qua nhiều hoạt động khác [32]. Cũng từ góc độ sinh kế hộ gia đình, hai nhà nghiên cứu là Robert Chambers và Gordon Conway (1992:6) đã phát triển khái niệm sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bao gồm toàn bộ năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, quyền lợi và quyền tiếp cận) và các hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cuộc sống. Sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hồi vượt qua áp lực và biến động, có thể duy trì và tăng cường được năng lực và tài sản, có thể tạo ra cơ hội bền vững cho thế hệ sau; và nó có thể tạo ra lợi ích dòng cho sinh kế của người khác ở cả cấp độ địa phương và cấp độ toàn cầu, ở cấp độ ngắn hạn và dài hạn [28].
Như vậy theo định nghĩa của Robert Chambers và Gordon Conway, sinh kế bao gồm ba thành tố đảm bảo cho cuộc sống bao gồm: năng lực (capabilities), tài sản (assets), và hoạt động (activities). Trong các thành tố cấu thành của sinh kế, yếu tố ‘tài sản’ (assets) là vấn đề còn có nhiều ý kiến cần được bổ sung làm rõ. Tài sản bao gồm cả vật thể và nguồn lực và phi vật thể như quyền lợi, quyền tiếp cận, mà con người sử dụng nhằm đảm bảo cuộc sống. Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute of Development Studies - IDS) và Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID) (1998:5), đã đưa ra khái niệm sinh kế và khung tiếp cận lý thuyết phân tích sinh kế bền vững, như sau: Sinh kế bao gồm toàn bộ năng lực, tài sản (bao gồm nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cuộc sống.
Sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hồi vượt qua áp lực và biến động, có thể duy trì và tăng cường được năng lực và tài sản, trong khi không làm tổn hại đến nguồn lực tự nhiên [17]. Như vậy theo các tác giả thì việc tạo sinh kế, sinh kế bền vững cho một cộng đồng người là việc tạo ra và duy trì đầy đủ các yếu tố cần thiết cho một cộng đồng người để có thể tồn tại, ổn định, phát triển và có thể đương đầu với các biến cố trong cuộc sống, đồng thời vẫn đảm bảo môi trường sinh thái tự nhiên được bảo vệ cùng phát triển với cộng đồng người. - Khái niệm về dân tộc: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Theo GS. Phan Hữu Dật (1973) thì dân tộc là cộng đồng người hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác, thông qua tên tự gọi [9].
Đặng Nghiêm Vạn (2003) thì dân tộc (nation) theo nghĩa được Liên hợp Quốc công nhận: thuật ngữ nation có nghĩa là một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triển trong lịch sử, với một lãnh thổ, một sinh hoạt kinh tế, một đặc trưng văn hóa, một tiếng nói chung, chỉ đạo bởi một nhà nước. Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me. Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân [25].
Trong suốt nửa sau thế kỷ XX, ở Việt Nam khái niệm về dân tộc của J.Stalin (1957) mang tính chủ đạo trong suốt một thời gian dài: Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa. - Khái niệm “Dân tộc thiểu số”: Dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số ơ quốc gia khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Khái niệm chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số: Chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số là các chính sách đặc thù do nhà nước ban hành nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại những nơi còn gặp nhiều bất lợi trong phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội. Từ các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số nhà nước thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giầu nghèo giữa các vùng miền trong cả nước… 1. Khung phân tích sinh kế bền vững Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng. Nó có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại.