CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG 1. Người có công 1. Khái niệm “Người có công” là một khái niệm xuất hiện trong lịch sử đấu tranh lâu dài, anh dũng, buất khuất giành độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc của dân tộc ta. Khái niệm này xuất hiện rõ nét nhất cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên.
Ngay từ những ngày đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào hàng năm chọn một ngày để đề ơn đáp nghĩa, ghi nhớ, tri ân những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Người nói: “Thương binh là những người hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn phải giúp đỡ những người con anh hùng ấy,…Ngày 27 tháng 7 là một dịp để đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”.
Theo nghĩa rộng, người có công là những người tự nguyện hiến dân cuộc đời mình cho việc đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến xất sắc phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc. Người có công gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc nam nữ, tuổi tác, miễn là họ có những hành động xuất sắc có lợi cho dân tộc [18. Như vậy, tiêu chí cơ bản để xác định người có công đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc vì lợi ích của dân tộc.
Những đóng góp cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho tổ quốc cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước,… 9 Luan van Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công để chỉ những cá nhân không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam, nữ,… có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kì trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận [18. Ở Việt Nam, người có công với cách mạng là đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước, được điều chỉnh bởi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Ngoài ra, xét về mặt công lao, sự đóng góp cũng có nhiều diện được coi là có công nhưng do các văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh như: người được tặng danh hiệu cao quý Thầy giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, người được tặng thưởng huân huy chương cao quý của Nhà nước,… thì sẽ được Luật thi đua khen thưởng điều chỉnh. Từ những khái niệm nêu trên, thì người có công được hiểu là: Người có công là người không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác, … đã có cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của Pháp luật [18.
Theo quy định hiện hành tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020 , Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì người có công bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 10 Luan van Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993; người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng. Như vậy, người có công không chỉ là người đã trực tiếp đấu tranh, hy sinh xương máu ở chiến trường, mà còn là những người đã giúp đỡ, cống hiến (người có công giúp đỡ cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng) cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Người có công theo quy định gồm Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì người có công bao gồm các đối tượng: Một là, người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945: Người hoạt động cách mạng được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 khi có một trong các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây: - Đã tham gia một tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; - Được kết nạp hoặc kết nạp lại vào Đảng Cộng sản Đông Dương trước ngày 19 tháng 8 năm 1945. Hai là, người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến 11 Luan van ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945: Người hoạt động cách mạng được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 khi có một trong các điều kiện, tiêu chuẩn sau đây: - Đã tham gia tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc tương đương trở lên trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa phương và sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến; - Đã hoạt động ở cơ sở trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa của từng địa phương sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến và khi hoạt động ở cơ sở trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa của địa phương là Bí thư, Chủ tịch, Chủ nhiệm Việt Minh, Bí thư Nông dân cứu quốc, Bí thư Thanh niên cứu quốc, Bí thư Phụ nữ cứu quốc cấp xã hoặc tương đương; đội trưởng, tổ trưởng, nhóm trưởng của đội, tổ, nhóm tự vệ chiến đấu, tuyên truyền giải phóng, thanh niên cứu quốc, nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, thiếu nhi cứu quốc ở địa phương chưa hình thành tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã; người được kết nạp vào tổ chức Việt Minh sau đó được giao nhiệm vụ ở lại địa phương hoạt động phát triển cơ sở cách mạng; người tham gia hoạt động cách mạng tháng Tám năm 1945 và sau ngày khởi nghĩa đến ngày 31 tháng 8 năm 1945 giữ một trong các chức vụ ngươi đứng đầu quy định tại điểm này hoặc tham gia tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện hoặc tương đương trở lên; - Người hoạt động cách mạng quy định tại mục a và mục b như trên không tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến do yêu cầu giảm chính, phục viên hoặc không đủ sức khỏe.
12 Luan van Ba là, liệt sĩ Người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân thì được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là liệt sĩ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia; - Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong địa bàn địch chiếm đóng, địa bàn có chiến sự, địa bàn tiếp giáp vùng địch chiếm đóng; - Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; - Hoạt động hoặc tham gia hoạt động cách mạng, kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; - Làm nghĩa vụ quốc tế; - Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; - Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, diễn tập hoặc làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm; - Do ốm đau, tai nạn không thể cứu chữa kịp thời khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo có điều kiện đặc biệt khó khăn theo danh mục do Chính phủ quy định; - Trực tiếp làm nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm; - Đặc biệt dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân hoặc ngăn chặn, bắt giữ người có hành vi phạm tội, là tấm gương có ý nghĩa tôn vinh, giáo dục, lan tỏa rộng rãi trong xã hội; - Do vết thương tái phát là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh quy định tại khoản 1 13 Luan van và khoản 2 Điều 23 của Pháp lệnh này có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên, có bệnh án điều trị yết thương tái phát của bệnh viện tuyến huyện trở lên và biên bản kiểm thảo tử vong; - Mất tích trong trường hợp quy định tại các mục nêu như trên và được cơ quan có thẩm quyền kết luận không phản bội; đầu hàng, chiêu hồi, đào ngũ. Bốn là, bà mẹ Việt Nam anh hùng Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” theo quy định tại Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Năm là, anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” theo quy. định của pháp luật.
Sáu là, anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động” trong thời kỳ kháng chiến vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến.