Chương 1 LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆNCHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm liên quan đến giảm nghèo 1. Khái niệm giảm nghèo * Khái niệm về nghèo Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của người dân. Trong những năm vừa qua thì khái niệm nghèo đói được xác định như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chưa bảo đảm các điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.
* Các chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo hiện tại Ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011 – 2015 như sau: - Chuẩn hộ cận nghèo + Đối với vùng nông thôn, thôn bản: Có mức thu nhập từ 401.000 đồng/người/tháng. + Đối với vùng thành thị: Có mức thu nhập từ 501.000 đồng/người/tháng. - Chuẩn hộ nghèo: + Vùng nông thôn, thôn bản: Hộ gia đình có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống. + Vùng thành thị: Hộ gia đình có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống.
Ngày 19/11/2015 Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg quy định về chuẩn nghèo tiếp cận nhiều chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 như sau: 6 (1). Các tiêu chí về thu nhập * Ở khu vực nông thôn, thôn bản chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng và ở khu vực thành thị, đô thị 1.000 đồng/người/tháng. * Ở khu vực nông thôn, thôn bản chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng và ở khu vực thành thị, đô thị là 900.000 đồng/người/tháng. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản * Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; * Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.” *Các chỉ tiêu đo lường về nghèo - Phương pháp đường cong Lorenz: Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ % dân số được cộng dồn với tỷ lệ thu nhập được cộng dồn tương ứng.
Phương pháp này được mô tả bằng đồ thị sau: Hình 1. Phương pháp đường cong Lorenz 7 Vì dân số được cộng dồn và thu nhập được cộng dồn tương ứng nên mọi điểm nằm trên đường phân giác (đường chéo) phản ánh một sự phân công tuyệt đối công bằng. Khoảng cách giữa đường chéo và đường Lozen là một dấu hiệu cho biết mức độ bất bình đẳng. Đường Lozen càng xa đường chéo thì mức độ bất bình đẳng càng lớn, điều đó cũng có nghĩa là phần trăm thu nhập của người nghèo nhận được giảm đi.
- Phương pháp chỉ số nghèo khó: Chỉ số nghèo khó được xác định bằng tỷ lệ % giữa số dân nằm dưới giới hạn của sự nghèo khó với toàn bộ dân số. Công thức tính: Số hộ dân ở dưới mức tốithiểu Ip = x 100 Tổng số hộ người dân Chỉ số này cho ta biết những thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người thật sự nghèo với những sự thay đổi trong phân phối thu nhập những người khá giả. Đây cũng là chỉ tiêu phản ánh tình trạng nghèo của người dân theo khu vực, vùng và tỉnh/Thành phố, là căn cứ để xây dựng các chương trình, chính sách giảm nghèo đối với các khu vực địa lý khác nhau. Giảm nghèo * Một số vấn đề về giảm nghèo - Khái niệm giảm nghèo: Giảm nghèo chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo và được thể hiện từ tỉ lệ phần trăm hằng năm giảm xuống và số lượng người nghèo ngày càng ít đi.
- Phát triển bền vững: Theo Hội đồng Thế giới về môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc định nghĩa về “phát triển bền vững”: là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển của các thế hệ tương lai. 8 - Giảm nghèo bền vững: Giảm nghèo được coi là một bộ phận cấu thànhrất quan trọng, do đó nó cũng đòi hỏi tính bền vững. Quan điểm của nước ta: Giảm nghèo bền vững là nhiệm vụ chính trị trọng điểm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo điều hành sát sao, cụ thể hóa và đồng bộ hóa của các cấp chính quyền, sự phối kết hợp tích cực của MTTQ và các đoàn thể người dân; đồng thời, phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến tổ chức tiến hành, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chương trình. Giảm nghèo bền vững là kiên định không để tái nghèo, là phải tiếp tục duy trì các nguồn đầu tư và các biện pháp chỉ đạo điều hànhthực hiệntriển khai liên tục có hướng đích để không cho nghèo đói quay lại chính nơi chúng ta đang tích cực thực hiện nỗ lực giảm nghèo.
- Mối quan hệ giữa giảm nghèo với phát triển bền vững: Phát triển bền vững là phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ, xã hội công bằng; để đạt được mục tiêu phát triển bền vững phải bảo đảm nguyên tắc lấy con người là trung tâm của phát triển bền vững. Khi nói đến việc phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững thì vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững, trong thực tiễn giảm nghèo bền vững là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ cho người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn từ đó đảm bảo sinh kế và sẽ hạn chế tối đa việc bị tái nghèo. * Sự cần thiết phải giảm nghèo Với sự phát triển của xu thế hội nhập cũng như sự bùng nổ của cuộc các mạng công nghiệp lần thứ tư, thì đất nước ngày càng phát kiển tuy nhiên bên cạnh những bộ phận người dân kịp thích ứng để tiếp cận thời cơ thì vẫn còn một bộ phận do điều kiện về tự nhiên, đều kiện về xã hôi, điều kiện về trình độ họ chưa tận dụng và nắm bắt được thời cơ do vậy họ bị tụt hậu so với mặt bằng chung của đại đa số do vậy nó tác động đến sự phân hoà giàu nghèo diễn ra rất 9 nhanh; vì vậy với mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” thì Đảng, Nhà nước cần có những quyết sách đúng đắn, phù hợp với đều kiện thực tế và từng vùng miền khác nhau, nhằm hướng tới tạo điều kiện cho những vùng khó khắn có cơ hội tiếp cận các chính sách để họ tự phát triển kinh tế trên cơ sở định hướng cụ thể của các đơn vị liên quan trong quá trình triển khai chính sách nhằm đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh. Do đó trong chính sách phát triển KT – XH.
Trong những năm vừa qua của Nhà nước ta đã xây dựng được các CTMTQG, trong đó có chương trình xóa đói, giảm nghèo. Để thực hiện được mục tiêu giảm nghèo bền vững thì không chỉ đưa ra các chính sách kinh tế mà bên cạnh đó cần phải có các chính sách an sinh xã hội song hành, do vậy, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp thống nhất khi triển khai đồng bộ các chính sách kinh tế và chính sách xã hội để đối tượng hộ nghèo hộ cận nghèo có cơ hội được tiếp cận, giúp họ có động lực tự thoát nghèo trên phương diện kinh tế và trên phương diện đời sống xã hội. Để tránh nguy cơ phân hóa giàu nghèo đang ngày càng gia tăng, phân tầng xã hội cũng ngày có chiều hướng rõ ràng trong xã hội thì hệ thống chính trị nói chung và chính quyền địa phương nói riêng cũng như bản thân cán bộ làm công tác thực hiện chính sách giảm nghèo phải nâng cao trách nhiệm của bản thân để tạo điều kiện cơ hội cho những đối tượng trong diện được thụ hưởng các chính sách họ được tiếp cận kịp thời và phù hợp với tình điều kiện thực tế, bởi nếu không giải quyết sự phân hoá giàu nghèo thì sẽ có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự bần cùng hoá ở một bộ phận người dân. Do đó sẽ không thể thực hiệnđược xã hội công bằng và sự lành mạnh xã hội nói chung.
* Các yếu tố cơ bản của giảm nghèo bền vững 10 Giảm nghèo bền vững là kết quả đạt được từ những nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân về giảm nghèo và có khả năng duy trì trên mức tối thiểu này ngay cả khi đối mặt với những biến cố, rủi ro thông thường. Những yếu tố trụ cột của giảm nghèo bền vững được thể hiện: Hình 1. Các yếu tố trụ cột giảm nghèo bền vững Yếu tố 1 (Năng lực, khả năng) Yếu tố 4 Giảm Yếu tố 2 (Cơ hội phát triển) nghèo (Dịch vụxã hội) bền vững Yếu tố 3 (An toàn) Nguồn:Bùi Xuân Dự, 2010, Marketing xã hội với giảm nghèo bền vững. - Yếu tố 1 ( Năng lực và khả năng): Để giảm nghèo bền vững không thể thiếu yếu tố “năng lực và khả năng”.
Nếu chúng ta chỉ dựa vào các nguồn giúp đỡ trực tiếp để giảm nghèo thì không mang tính lâu dài, khi nguồn giúp đỡ không còn thì người dân lại trở lại với nghèo đói. Ngược lại, khi năng lực của người dân, của chính quyền và cộng đồng tốt thì khi đó người dân sẽ chủ động vươn lên thoát khỏi nghèo đói bằng nỗ lực của chính họ cùng với năng lưc hỗ trợ của chính quyền. - Yếu tố 2 (Dịch vụ xã hội): Giảm nghèo là nỗ lực của cả nhà nước, cộng đồng và người dân trong đó nhà nước (chính quyền) và các đối tác xã hội 11 cung cấp những dịch vụ cần thiết để người dân thực hiệncác biện pháp giảm nghèo. Do vậy, dịch vụ công và dịch vụ xã hội tốt là điều kiện rất quan trọng bảo đảm cho giảm nghèo nhanh và bền vững.
- Yếu tố 3 (Tính an toàn): Giảm nghèo bền vững phải gắn với khả năng chống chịu rủi ro. Nền tảng của giảm nghèo bền vững chính là chủ động phòng, ngừa giảm thiểu rủi ro.