CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1. Một số lý luận về việc làm và việc làm cho thanh niên 1. Lao động và việc làm 1.
Khái niệm lao động, việc làm và mối quan hệ giữa lao động và việc làm * Lao động Lao động là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất của mọi nền sản xuất xã hội. Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, ta phải liên hệ đến khái niệm lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan điểm khác nhau về lao động. Theo quan điểm Kinh tế chính trị “lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người để tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm tạo ra của cải phục vụ nhu cầu của mình và xã hội”.1 Lao động không chỉ là quá trình con người cải tạo thế giới tự nhiên mà còn là quá trình cải tạo chính bản thân mình.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lê nin phân biệt rõ sự khác nhau giữa lao động và sức lao động để từ đó giải thích một số vấn đề kinh tế - xã hội trong đời sống xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường. Theo đó, sức lao động là tổng hợp toàn bộ những năng lực về thể chất và tinh thần tồn tại trong con người, gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng – kỹ xảo. có sẵn trong cơ thể con người. Còn lao động là hình thức biểu hiện hoạt động của sức lao động, trạng thái hiện thực khi chúng ta đưa sức lao động vào sử dụng.
Về nguyên tắc không có “thị trường lao động” mà là “thị trường sức lao động” vì cái người lao động bán là lao động. Tuy nhiên, Kinh tế học hiện đại và theo cách dùng phổ biến hiện nay người ta vẫn sử dụng khái niệm “thị trường lao động”. Lao động ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hàm chứa cả yếu tố con người, năng lực lao động của họ và sự kỳ vọng của người mua về một sự phục vụ mang lại một kết quả nhất định. 1 Giáo trình Kinh tế chính trị.
Dùng cho khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng. NXB CRQG, Hà Nội 2005) 12 Trong giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao động, Trường ĐH Kinh tế quốc dân: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người”. Còn theo tác giả Thúy Anh đề cập trong Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế thì “Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tọa ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội”.2 Tuy nhiên, Kinh tế học hiện đại lại hiểu lao động là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa.
Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất, còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. 3 Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.
Có rất nhiều quan điểm về lao động tuy nhiên theo tác giả nhận thấy khái niệm lao động theo Kinh tế học là đầy đủ các yếu tố nhất, đó là: Lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa: Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động.4 Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.
Dưới nhiều góc độ khác nhau khái niệm lao động được nhìn nhận khác nhau, tuy vậy đều có thể quy về các đặc điểm chung của các định nghĩa đó là: - Chủ thể của lao động là con người, hoạt động có mục đích, một cách chủ động. - Đối tượng của lao động đó tự nhiên hay các loại hình dịch vụ xã hội. - Hoạt động đó là nhằm cải tạo tự nhiên, tạo ra của cải thảo mãn nhu cầu con người. * Việc làm 2 Thúy Anh, Giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế, NxB ngoại thương 2011 3 Bộ NN & PT Nông thôn , http://xttm.vn/Site/vi-VN/76/tapchi/141/144/4568/Default.aspx 4 Bộ NN & PT Nông thôn , http://xttm.vn/Site/vi-VN/76/tapchi/141/144/4568/Default.aspx 13 Việc làm tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất.
Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau do hệ thống sản xuất khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau.
Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Theo quan điểm pháp lý thì Điều 9 Bộ luật lao động 2012 và Điều 3 Luật Việc Làm 2013 đã khái quát hóa việc làm thành định nghĩa:“Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Theo quan điểm kinh tế - xã hội thì Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa việc làm bằng cách mô tả đặc điểm của việc làm “gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể là một tuần hoặc một ngày, làm việc được trả lương hay tự trả lương cho mình”.5 Nhìn chung, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: Đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công; đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình; hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận. Nêu so sánh khái niệm việc làm của Luật Việc Làm 2013 hay Luật Lao động 2012 thì ta thấy khái niệm trong Luật của Việt Nam trên nói chung khá hẹp nếu so sánh với khái niệm của ILO, cụ thể ta có thể thấy: Thứ nhất, Theo định nghĩa của Luật Việt lam của Việt Nam thì hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.
Theo định nghĩa 5 http://www.org/content/dam/vietnam/docs/Publications/5%20Viec%20lam%20va%20Thi %20truong%20Lao%20dong.pdf 14 của ILO thì công việc nội trợ được coi là việc làm do đem lại lợi ích cho bản thân và gia đình. Thứ hai, Nếu theo định nghĩa trong Luật Việc Làm của Việt Nam sẽ gây ra khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác lại không được thừa nhận. Ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề.
Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu. Bởi vậy định nghĩa của ILO bao quát hơn trên bình diện toàn thế giới. Từ những khái niệm trên giúp ta hiểu rõ khái niệm thiếu việc làm hay bán thất nghiệp. Người thiếu việc làm là những người có việc làm nhưng do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, mà họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm những công việc có thu nhập thấp không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm để bổ sung.
Theo ILO thì Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành. Ngoài các định nghĩa khác nhau về việc làm còn có sự phân biệt khác nhau về các khái niệm gắn với công tác quản lý lao động và do vậy là yếu tố liên quan đến chính sách giải quyết việc làm như: “việc làm chính thức”, “việc làm phi chính thức”, “việc làm không tử tế”. Đây là vấn đề có liên hệ khá mật thiết với lực lượng lao động trẻ (thanh niên) vì lao động thanh niên có tính cơ động cao, dễ thay đổi công việc, thích làm các công việc mạo hiểm… Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau do hệ thống sản xuất khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau.
Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Tuy nhiên có thể hiểu việc làm tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có 15 của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
* Mối quan hệ giữa lao động và việc làm Sức lao động và lao động là hai khái niệm có sự phân biệt nhất định. Dù các nhà kinh tế học hiện đại có đồng nhất khái niệm lao động với sức lao động thì giữa hai khai niệm này vẫn có sự phân biệt khá rõ rệt. Sức lao động là yếu tố vật chất và tinh thần tạo nên lao động, hoạt động lao động. Ngược lại, lao động là biểu hiện, là kết quả vận dụng sức lao động vào công việc cụ thể.
Sự phân biệt lao động và việc làm chỉ có tính tương đối vì hai khái khái niệm này có mối quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí nhiều lúc có thể được sử dụng thay thế nhau.