phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về chính sách GQVL cho LĐNT trên địa bàn cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng chính sách GQVL cho LĐNT trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện tuy phƣớc, tỉnh Bình Định 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lí luận về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 1. Một số khái niệm và đặc điểm lao động nông thôn 1.
Một số khái niệm * Khái niệm về việc làm Tại Khoản 1 Điều 9 của Bộ Luật Lao động năm 2019 và Khoản 2 Điều 3 của Luật Việc làm năm 2013: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm” [17]. * Khái niệm người lao động Tại Khoản 21 Điều 3 của Luật Việc làm năm 2013 quy định: “Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc [15]. * Khái niệm nông thôn Theo Thông tƣ số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định nghĩa nông thôn: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". * Khái niệm LĐNT Từ khái niệm NLĐ và nông thôn có thể hiểu khái niệm LĐNT là những người thuộc lực lượng lao động, tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, ngư nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ trong nông thôn.
* Khái niệm GQVL GQVL là tổng thể những biện pháp, chính sách KT-XH của nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạ điều kiện để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm. *Khái niệm GQVL cho LĐNT Từ những khái niệm trên có thể hiểu: GQVL cho LĐNT là tổng thể những biện pháp, chính sách KT-XH của nhà nước cho những người LĐNT tham gia 9 hoạt động trong hệ thống các ngành KTNT như tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, ngư nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ trong nông thôn. Đặc điểm lao động nông thôn Cơ cấu lao động làm nông nghiệp chiếm đến 90% LĐNT, do đó mà đặc điểm của nguồn LĐNT cũng tƣơng đồng với đặc điểm của lao động trong SXNN. Nghiên cứu và tìm hiểu đầy đủ các tính chất của LĐNT từ đó có thể tìm ra những biện pháp sử dụng tốt nhất nguồn lao động trong nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung.
Đặc điểm của lao động nông thôn thể hiện trên những nội dung sau: Thứ nhất, LĐNT là hoạt động mang tính chất thời vụ cao. SXNN luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai…). Quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều. Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn.
Thứ hai, LĐNT rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn. Do đó, việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lực lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cƣờng lực lƣợng lao động cho SXNN. Thứ ba, LĐNT đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp. SXNN có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau.
Hơn nữa mức độ áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà SXNN chỉ đòi hỏi về sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm. Mỗi lao động có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên LĐNT ít chuyên sâu hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn LĐNT mang tính phổ thông, ít đƣợc đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ mang tính tự chế cao. Lực lƣợng chuyên sâu, lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất.
Thứ tư, Lao động nông thôn ít có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém. 10 LĐNT thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trƣờng, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lƣu và phát triển sản xuất hàng hoá cũng có nhiều hạn chế. Tập quán sản xuất của lao động nƣớc ta nhìn chung vẫn nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu bị trói buộc trong khuôn khổ làng xã.
Nội dung và ý nghĩa giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 1. Nội dung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Tổ chức hướng nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm Vấn đề việc làm của lao động nông thôn có liên quan chặt chẽ với những định hƣớng nghề nghiệp cho nhóm đối tƣợng này. Để có một nguồn nhân lực đáp ứng đƣợc những đòi hỏi ngày càng cao, vấn đề đặt ra là phải định hƣớng phát triển nghề nghiệp mới cho ngƣời lao động, phù hợp với những yêu cầu mới của thị trƣờng. Kết hợp giữa nhu cầu thực tế của sự phát triển thị trƣờng lao động mới với xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của ngƣời lao động.
Thực tế cho thấy, giữa những đòi hỏi về việc làm với định hƣớng nghề nghiệp của ngƣời lao động, giữa mục tiêu đào tạo nghề và sử dụng lao động có nhiều mâu thuẫn. Do đó, trƣớc hết cần tăng cƣờng nâng cao nhận thức cho ngƣời lao động về nghề nghiệp, việc làm nhằm làm thay đổi định hƣớng giá trị xã hội và định hƣớng nghề nghiệp cho lao động ở nông thôn.iệp ở đây chủ yếu là h.ƣa có việc làm, ch.ải đƣợc diễn. Đối với ngƣời lao động chƣa có việc làm cũng nhƣ chƣa có định hƣớng nghề cần có sự phối hợp của chính quyền địa phƣơng, tổ chức chính trị xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm, Phòng LĐ-TB&XH, các cơ sở giáo dục với đơn vị sử dụng lao động rà soát nhu cầu nghề, mong muốn, nguyện vọng của ngƣời lao động, từ đó đƣa ra những nội dung hƣớng nghiệp quan trọng. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn địa phương Đào tạo nghề cho LĐNT là đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ cho LĐNT, để họ có năng lực thực hành nghề tƣơng 11 xứng với trình độ, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp.
nhằm tạo điều kiện cho LĐNT sau khi tốt nghiệp có khả năng tự tạo việc làm, tìm việc làm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc. Trong đào tạo nghề, việc đào tạo phải gắn với nhu cầu lao động mà trƣớc hết là gắn với ngƣời sử dụng lao động nhƣ chuyển đổi sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu, tổ chức sản xuất những sản phẩm chủ lực để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở địa phƣơng, đào tạo nghề sản xuất công nghệ cao, đào tạo sản xuất sản phẩm vệ sinh an toàn thực phẩm, đào tạo sản xuất thực hiện an sinh xã hội vùng khó khăn. Phát triển ngành nghề nông thôn Phát triển ngành nghề nông thôn đƣợc coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn. Sự phát triển các ngành nghề trong lao động ở nông thôn là việc tạo điều kiện, tạo sự gia tăng số hộ có ngành nghề và sự chuyển biến tích cực trong nội tại các ngành nghề mà hộ đảm nhận nhƣ công nghệ trình độ tay nghề, sự lành nghề, sự đa dạng hoá sản phẩm cùng một đầu vào, chất lƣợng sản phẩm tăng lên.
Các ngành nghề mà lao động ở nông thôn tổ chức có hiệu quả sẽ thúc đẩy kinh tế hộ phát triển từ đó phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. Tuy nhiên, để tạo nhiều việc làm và việc làm ổn định cho ngƣời lao động, việc phát triển ngành nghề ở nông thôn cần có quy hoạch và phải dựa trên cơ sở khai thác đƣợc những lợi thế của địa phƣơng; tạo điều kiện cho lao động có đƣợc thế mạnh cũng nhƣ khả năng để tạo dựng ngành nghề. Các ngành nghề ở nông thôn phải tạo mọi điều kiện khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài tỉnh, cũng nhƣ các thành phần kinh tế để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá đáp ứng yêu cầu của thị trƣờng và giải quyết nhiều việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn. Giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn Hoạt động giới thiệu việc làm là thực hiện tƣ vấn cho NLĐ về chính sách lao động, cung cấp thông tin về việc làm, làm chiếc cầu nối giữa NLĐ và ngƣời sử dụng lao động.
Tổ chức giới thiệu việc làm bao gồm tổ chức hệ thống quản lý giới thiệu việc làm, các tổ chức chính trị xã hội nhƣ Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn 12 thanh niên., các làng nghề, các doanh nghiệp tham gia vào công tác giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn. Hoạt động giới thiệu việc làm đƣợc thực hiện thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm, sàn giao dịch việc làm, tổ chức hội chợ việc làm. Đây là nơi kết nối giữa ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động trong quá trình tìm kiếm việc làm. Cung cấp cho ngƣời lao động những thông tin và yêu cầu của ngƣời sử dụng lao động về lĩnh vực cần tuyển lao động, những đòi hỏi về trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng nhƣ các mức tiền công có thể nhận đƣợc, giới thiệu cho ngƣời sử dụng lao động tuyển đƣợc lao động theo đúng yêu cầu.
Tổ chức xuất khẩu lao động Đối với các vùng nông thôn, xuất khẩu lao động phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng. Đó không thuần túy chỉ là việc đƣa ngƣời lao động ở địa phƣơng đi làm việc ở nƣớc ngoài, mà còn bao gồm cả việc đƣa ngƣời lao động đi làm việc tại các địa phƣơng khác.