Chính Sách Đối Ngoại Xuyên Đại Tây Dương Của CHLB Đức (2005-2018)

Tài liệu nghiên cứu Chính sách đối ngoại xuyên đại tây dương của chlb đức 2005 2018, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Lịch sử Thế giới

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

74
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Chính Sách Đối Ngoại Xuyên Đại Tây Dương Đức

Quan hệ xuyên Đại Tây Dương bao gồm các mối quan hệ lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội giữa các quốc gia ở hai bờ Đại Tây Dương. Thường là giữa Mỹ, Canada và các nước châu Âu. Mối quan hệ ban đầu dựa trên chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa trọng thương. Hầu hết các quốc gia hiện đại ở châu Mỹ có nguồn gốc từ các quốc gia thuộc địa do các nước châu Âu thành lập. Chủ nghĩa Đại Tây Dương ủng hộ sự hợp tác chặt chẽ giữa Bắc Mỹ và Châu Âu, dựa trên hệ thống Bretton Woods, kế hoạch Marshall và NATO. Đây là nền tảng của "trật tự hậu thế giới", nhằm ổn định châu Âu và ngăn chặn chủ nghĩa toàn trị. Các thể chế này không chỉ định hình châu Âu sau năm 1945 mà còn thể hiện sức mạnh lý tưởng của Mỹ. Đỉnh cao là khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, mở ra cơ hội cho khối Liên Xô. Chủ nghĩa Đại Tây Dương trở thành phương tiện để phương Tây tiếp cận thế giới. Tuy nhiên, mối quan hệ này lung lay khi nhiều cấu trúc cơ bản bị xói mòn hoặc biến mất. Mỹ không còn viện trợ hàng tỷ đô la cho châu Âu, tiền tệ quốc tế không còn gắn liền với chính sách tiền tệ bên ngoài. Ngay cả khi liên minh Mỹ-Âu suy yếu, khái niệm về một thế giới tự do dựa trên trụ cột xuyên Đại Tây Dương vẫn là một ý tưởng chính trị mạnh mẽ.

1.1. Nền Tảng Của Chủ Nghĩa Xuyên Đại Tây Dương

Chủ nghĩa Đại Tây Dương được xây dựng trên ba nền tảng chính: hệ thống Bretton Woods, kế hoạch Marshall và NATO. Hệ thống Bretton Woods thiết lập một hệ thống tiền tệ quốc tế ổn định sau Thế chiến II. Kế hoạch Marshall cung cấp viện trợ kinh tế cho các nước châu Âu để tái thiết sau chiến tranh. NATO là một liên minh quân sự giữa các nước Bắc Mỹ và châu Âu. Ba nền tảng này đã giúp củng cố mối quan hệ giữa hai bờ Đại Tây Dương và tạo ra một trật tự thế giới mới. Hợp tác xuyên Đại Tây Dương đã mang lại nhiều lợi ích cho cả hai bên, bao gồm tăng trưởng kinh tế, an ninh và ổn định chính trị.

1.2. Sự Thay Đổi Trong Quan Hệ Xuyên Đại Tây Dương

Mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương đã trải qua nhiều thay đổi kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Sự trỗi dậy của các cường quốc mới như Trung Quốc và Ấn Độ đã làm suy yếu vị thế của phương Tây trên thế giới. Các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị đã làm gia tăng căng thẳng giữa các nước ở hai bờ Đại Tây Dương. Sự khác biệt về quan điểm về các vấn đề như biến đổi khí hậu, thương mại và an ninh đã gây khó khăn cho việc hợp tác. Mặc dù có những thách thức, mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương vẫn là một trong những mối quan hệ quan trọng nhất trên thế giới. Quan hệ Đức - Hoa Kỳ vẫn là nền tảng của chính sách đối ngoại.

II. Bối Cảnh Quốc Tế Ảnh Hưởng Chính Sách Đối Ngoại Đức

Bối cảnh quốc tế có ảnh hưởng sâu sắc đến chính sách đối ngoại của Đức. Sự thay đổi trong cán cân quyền lực toàn cầu, sự trỗi dậy của các cường quốc mới, các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị, và các thách thức an ninh mới đều tác động đến cách Đức tiếp cận thế giới. Đức là một cường quốc kinh tế và chính trị lớn ở châu Âu, và có vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách của Liên minh châu Âu. Đức cũng là một thành viên quan trọng của NATO, và có cam kết mạnh mẽ đối với an ninh châu Âu. Chính sách đối ngoại của Đức được định hình bởi một số yếu tố, bao gồm lịch sử, địa lý, kinh tế và chính trị. Đức có một lịch sử lâu dài về chủ nghĩa hòa bình và hợp tác quốc tế. Đức nằm ở trung tâm của châu Âu, và có quan hệ chặt chẽ với các nước láng giềng. Đức là một cường quốc kinh tế lớn, và có lợi ích trong việc duy trì một hệ thống thương mại quốc tế mở. Đức là một nền dân chủ, và có cam kết mạnh mẽ đối với các giá trị dân chủ.

2.1. Ảnh Hưởng Từ Liên Minh Châu Âu EU

Đức là một thành viên chủ chốt của EU, và chính sách đối ngoại của Đức thường được thực hiện thông qua EU. Đức ủng hộ một EU mạnh mẽ và thống nhất, và tin rằng EU có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các thách thức toàn cầu. Đức cũng ủng hộ việc mở rộng EU, và tin rằng việc kết nạp các nước mới sẽ giúp củng cố EU và tăng cường an ninh châu Âu. Quan hệ Đức - EU là một yếu tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đức. Đức sử dụng EU như một công cụ để thúc đẩy lợi ích của mình trên thế giới.

2.2. Vai Trò Của Đức Trong Tổ Chức NATO

Đức là một thành viên quan trọng của NATO, và có cam kết mạnh mẽ đối với an ninh châu Âu. Đức ủng hộ một NATO mạnh mẽ và hiệu quả, và tin rằng NATO có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đối phó với các mối đe dọa an ninh mới. Đức cũng ủng hộ việc tăng cường hợp tác giữa NATO và EU. Vai trò của Đức trong NATO là một yếu tố quan trọng trong chính sách an ninh của Đức. Đức sử dụng NATO như một công cụ để bảo vệ lợi ích của mình và duy trì an ninh châu Âu.

III. Phân Tích Chính Sách Đối Ngoại Đức Dưới Thời Merkel 2005 2018

Dưới thời Thủ tướng Angela Merkel (2005-2018), chính sách đối ngoại của Đức đã trải qua một số thay đổi quan trọng. Merkel đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế và giải quyết các vấn đề toàn cầu thông qua các giải pháp đa phương. Bà cũng đã thúc đẩy một vai trò mạnh mẽ hơn cho Đức trong Liên minh châu Âu và trên thế giới. Merkel đã phải đối mặt với một số thách thức đối ngoại lớn, bao gồm cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, cuộc khủng hoảng di cư và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy. Bà đã phản ứng với những thách thức này bằng cách thúc đẩy hợp tác quốc tế, tăng cường an ninh châu Âu và bảo vệ các giá trị dân chủ.

3.1. Ưu Tiên Hợp Tác Đa Phương Trong Chính Sách Đối Ngoại

Merkel tin rằng các vấn đề toàn cầu chỉ có thể được giải quyết thông qua hợp tác quốc tế. Bà đã thúc đẩy một vai trò mạnh mẽ hơn cho Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác. Bà cũng đã tham gia tích cực vào các nỗ lực quốc tế để giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậu, nghèo đói và khủng bố. Hợp tác đa phương là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của Merkel. Bà tin rằng Đức có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thế giới hòa bình và thịnh vượng hơn.

3.2. Quan Hệ Đức Mỹ Dưới Thời Thủ Tướng Merkel

Quan hệ giữa Đức và Mỹ đã trải qua những thăng trầm dưới thời Thủ tướng Merkel. Mặc dù hai nước vẫn là đồng minh thân thiết, nhưng đã có những bất đồng về các vấn đề như thương mại, chính sách đối với Iran và chi tiêu quốc phòng. Merkel đã cố gắng duy trì một mối quan hệ tốt đẹp với Mỹ, nhưng bà cũng đã bảo vệ lợi ích của Đức và châu Âu khi cần thiết. Quan hệ Đức - Hoa Kỳ vẫn là một trong những mối quan hệ quan trọng nhất của Đức, nhưng nó đã trở nên phức tạp hơn trong những năm gần đây.

IV. Thực Thi Chính Sách Đối Ngoại Xuyên Đại Tây Dương 2005 2018

Trong giai đoạn 2005-2018, Đức đã thực thi chính sách đối ngoại xuyên Đại Tây Dương trên nhiều lĩnh vực, bao gồm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Trên lĩnh vực chính trị và quân sự, Đức đã hợp tác chặt chẽ với Mỹ và các đồng minh NATO để đối phó với các mối đe dọa an ninh chung. Trên lĩnh vực kinh tế, Đức đã thúc đẩy thương mại và đầu tư với Mỹ và các nước khác ở Bắc Mỹ. Trên lĩnh vực văn hóa và xã hội, Đức đã thúc đẩy trao đổi văn hóa và giáo dục với Mỹ và các nước khác ở Bắc Mỹ.

4.1. Hợp Tác Chính Trị Quân Sự và Ngoại Giao

Đức và Mỹ đã hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề như chống khủng bố, giải quyết các cuộc xung đột và thúc đẩy dân chủ. Đức đã tham gia vào các hoạt động quân sự do NATO lãnh đạo ở Afghanistan và các khu vực khác. Đức cũng đã đóng một vai trò quan trọng trong các nỗ lực ngoại giao để giải quyết các cuộc khủng hoảng quốc tế. Chính sách an ninh của Đức đã được điều chỉnh để phù hợp với các thách thức an ninh mới.

4.2. Quan Hệ Thương Mại và Kinh Tế Đức Mỹ

Mỹ là một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Đức. Hai nước có một mối quan hệ kinh tế sâu sắc, với thương mại song phương đạt hàng tỷ đô la mỗi năm. Đức và Mỹ cũng là những nhà đầu tư lớn của nhau. Chính sách thương mại của Đức nhằm thúc đẩy thương mại tự do và công bằng với Mỹ và các nước khác.

V. Đánh Giá và Triển Vọng Chính Sách Đối Ngoại Đức Hiện Nay

Chính sách đối ngoại của Đức đã đạt được một số thành công trong những năm gần đây, nhưng cũng phải đối mặt với một số thách thức. Đức đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các cuộc khủng hoảng quốc tế, thúc đẩy hợp tác quốc tế và bảo vệ các giá trị dân chủ. Tuy nhiên, Đức cũng phải đối mặt với những thách thức như sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy, sự suy yếu của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và sự gia tăng căng thẳng giữa các cường quốc. Trong tương lai, Đức sẽ cần phải tiếp tục điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình để phù hợp với những thay đổi trong bối cảnh quốc tế.

5.1. Dự Báo Triển Vọng Quan Hệ Xuyên Đại Tây Dương

Mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương đang đối mặt với nhiều thách thức, nhưng vẫn có tiềm năng cho sự hợp tác trong tương lai. Đức và Mỹ có thể hợp tác để giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậu, khủng bố, và sự trỗi dậy của các cường quốc mới. Tuy nhiên, để làm được điều này, hai nước cần phải vượt qua những bất đồng và xây dựng một mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Hợp tác xuyên Đại Tây Dương vẫn là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì hòa bình và thịnh vượng trên thế giới.

5.2. Ảnh Hưởng Của Chính Sách Đối Ngoại Đức Đến Việt Nam

Đức là một đối tác quan trọng của Việt Nam trong Liên minh châu Âu. Hai nước có một mối quan hệ kinh tế và chính trị ngày càng phát triển. Đức đã hỗ trợ Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội. Chính sách phát triển của Đức có ảnh hưởng tích cực đến Việt Nam. Đức cũng là một tiếng nói quan trọng ủng hộ Việt Nam trong Liên minh châu Âu.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Đề tài còn đƣợc cấu trúc gồm có 2 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở hình thành chính sách đối ngoại xuyên Đại Tây Dƣơng của CHLB Đức (2005-2018) Chƣơng 2: Quá trình thực thi và một số nhận xét về chính sách đối ngoại xuyên Đại Tây Dƣơng của CHLB Đức (2005-2018) 8 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI XUYÊN ĐẠI TÂY DƢƠNG CỦA CHLB ĐỨC (2005-2018) 1. Chủ nghĩa xuyên Đại Tây Dƣơng Quan hệ xuyên Đại Tây Dƣơng đề cập đến quan hệ lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế và xã hội giữa các quốc gia riêng lẻ, giữa các nhóm quốc gia hoặc tổ chức quốc tế với các nhóm khác, các quốc gia khác ở cả hai phía Đại Tây Dƣơng. Đôi khi cụ thể là giữa Mỹ, Canada và các quốc gia khác ở châu Âu.

Mối quan hệ ban đầu giữa Châu Âu và Châu Mỹ dựa trên chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thƣơng mại. Phần lớn các quốc gia hiện đại ở châu Mỹ có thể đƣợc truy nguyên từ các quốc gia thuộc địa đƣợc thành lập bởi các quốc gia châu Âu, những quốc gia rất khác biệt với các nền văn minh và văn hóa tiền Columbus đã tồn tại trƣớc đó. Chủ nghĩa Đại Tây Dƣơng là một triết lý ủng hộ sự hợp tác chặt chẽ giữa Bắc Mỹ và Châu Âu đƣợc xây dựng trên cơ sở: hệ thống Bretton Woods, kế hoạch Marsall, và NATO. Đây là những nền tảng của cái gọi là "trật tự hậu thế giới", một chƣơng trình để ổn định châu Âu và ngăn chặn sự xuất hiện của các hình thức mới của chủ nghĩa toàn trị.

Đối với những ngƣời Đại Tây Dƣơng, các thể chế này không chỉ là phƣơng tiện định hình châu Âu sau năm 1945 mà còn là một biểu hiện của những khả năng cho sức mạnh lý tƣởng của ngƣời Mỹ. Đỉnh cao của mối quan hệ là kết thúc của cuộc Chiến tranh lạnh, khi các cơ hội hình thành phía tây đột nhiên trở nên có sẵn cho khối Liên Xô. Chủ nghĩa Đại Tây Dƣơng có thể là phƣơng tiện đƣa phƣơng Tây đến phần còn lại, nhƣ một số ngƣời Đại Tây Dƣơng đã đề xuất trong những năm đầu sau sự sụp đổ của bức tƣờng Berlin. Mối quan hệ này không còn đơn giản là một phản ứng đối với các 9 cuộc khủng hoảng, chủ nghĩa Đại Tây Dƣơng thực sự đã trở thành một cách để hình thành thế giới.

Tuy nhiên mối quan hệ này trở nên lung lay khi mà nhiều cấu trúc hình thành cơ sở của “trật tự hậu thế giới” ban đầu đã bị xói mòn hoặc biến mất. Mỹ không còn viện trợ hàng tỷ đô la cho châu Âu, nhƣ đã làm trƣớc năm 1951; tiền tệ quốc tế không còn gắn liền với một chính sách tiền tệ bên ngoài đƣợc thiết kế ở New Hampshire, nhƣ trƣớc năm 1971; các quốc gia từng là một phần của Liên Xô lại chuyển hƣớng trở thành thành viên của NATO. Ngay cả khi liên minh giữa Mỹ và châu Âu đã suy yếu, khái niệm về một thế giới tự do đƣợc xây dựng trên trụ cột xuyên Đại Tây Dƣơng đã sống nhƣ một ý tƣởng chính trị mạnh mẽ. Thực tế ảm đạm của quan hệ xuyên Đại Tây Dƣơng đƣợc mô tả qua quan hệ giữa Mỹ và châu Âu, khi mà George HW Bush tức giận các đồng minh châu Âu với chiến tranh ở vùng Vịnh.

Clinton đã thể hiện cam kết Đại Tây Dƣơng của mình với NATO với các cuộc không kích của Bosnia, trong khi George W Bush đã xâm lƣợc Iraq và gần nhƣ xé bỏ liên minh. Mặc dù mối quan hệ của Đức với Mỹ vẫn là nền tảng của chính sách đối ngoại. Nó thiết lập một trang web với một hình ảnh lớn của đại dƣơng vô tận. Nhƣng nó không thể xác định mối quan hệ xuyên Đại Tây Dƣơng.

“Thứ tự thế giới tự do với nền tảng của nó trong các mối quan hệ đa phƣơng, các tiêu chuẩn và giá trị toàn cầu của nó, các xã hội và thị trƣờng mở của nó - đang gặp nguy hiểm”. Nhƣng nếu các giá trị và định mức đƣợc chia sẻ là nền tảng của trật tự thế giới tự do, chúng là gì? Mỹ và Đức, để sử dụng ví dụ của hai quốc gia ở hai bên Đại Tây Dƣơng, là cả hai nền dân chủ đại diện, đó là sự thật. Không mất nhiều sự tìm hiểu để thấy sự khác biệt rõ ràng trong các tiêu chuẩn và giá trị trong hệ thống chính trị của họ: việc sở hữu sung ở Đức là rất nghiêm ngặt, và không phải ở Mỹ; ngôn từ kích động thù địch đƣợc cho phép ở Mỹ chứ không phải ở Đức; Đức có một hệ thống phúc lợi xã hội mạnh mẽ và Mỹ không có; hệ 10 thống chính trị Đức sau chiến tranh đƣợc thiết lập để tránh tập trung quyền lực trong khi ngƣời Mỹ dƣờng nhƣ cho phép tiếp quản khá nhanh chóng. Cả hai nƣớc đều coi trọng “tự do” và “dân chủ” nhƣng các hệ thống của họ có vẻ phù hợp nhất khi đƣợc xem trong mối quan hệ xuyên Đại Tây Dƣơng.

Chủ nghĩa Đại Tây Dƣơng chƣa bao giờ có một ý nghĩa ổn định, chính vì thế mà mỗi quốc gia trong liên minh Đại Tây Dƣơng lại theo đuổi một chính sách đối ngoại khác nhau, trong đó chính sách đối ngoại xuyên Đại Tây Dƣơng của Đức có vai trò quan trọng trong mối quan hệ này. Bối cảnh quốc tế và khu vực Thời điểm Chiến tranh lạnh kết thúc vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX có thể coi là sự đánh dấu sự thay đổi về chất của môi trƣờng quan hệ quốc tế. Sự tan rã của Liên bang Xô Viết đã dẫn đến sự sụp đổ của trật tự hai cực Ianta và nƣớc Mỹ đã vƣơn lên thành siêu cƣờng lớn nhất. Ở góc độ chủ thể quốc gia, Mỹ chủ trƣơng duy trì một nền địa - chính trị đơn cực do Mỹ làm bá chủ.

Các cƣờng quốc khác đặc biệt là Nga và Trung Quốc thì chủ trƣơng xây dựng một thế giới đa cực và phản đối tƣ tƣởng bá quyền của Mỹ. Từ đầu thế kỉ XXI, thế giới chứng kiến sự thay đổi cả về môi trƣờng địa – chính trị, cả về môi trƣờng địa – kinh tế thế giới, đặc biệt là sự trỗi dậy của Trung Quốc và ngƣời ta cũng nói nhiều đến “kỉ nguyên châu Á” với khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng sẽ vƣơn lên dẫn đầu nền kinh tế thế giới. Đó là sự tiếp tục phát triển của toàn cầu hóa, đây là xu hƣớng phát triển chủ yếu của thế giới trong những thập niên đầu thế kỉ XXI. Đặc trƣng của xu hƣớng này là sự phụ thuộc kinh tế ngày càng tăng giữa các quốc gia trên thế giới do việc phát triển qui mô và đa dạng hàng hóa, dịch vụ, vốn xuyên quốc gia ngày càng mở rộng.

Thêm vào đó là sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học công nghệ. 11 Thế giới đang dần trở thành một cộng đồng thống nhất, trong đó mỗi quốc gia dân tộc là một nhân tố cấu thành của hệ thống, cơ cấu toàn cầu thống nhất. Có thế nói rằng, đặc điểm bao trùm quan hệ quốc tế từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh cũng nhƣ trong thập niên đầu của thế kỉ XXI là sự nổi trội của xu thế hòa bình, hợp tác phát triển cùng có lợi, cùng nhau chung sức để giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu. Xu hƣớng này đƣợc quyết định bởi lợi ích chung và sự đan xen lợi ích giữa các quốc gia, các khu vực trong bối cảnh thế giới tƣơng đối hòa bình.

Các tổ chức quốc tế và khu vực đều có cơ hội củng cố, mở rộng và phát triển bên cạnh sự hình thành hàng loạt của các tổ chức khu vực và liên kết mới. Chính việc củng cố thiết chế chung, thiết lập cơ cấu hợp tác mới đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc thúc đẩy sự hợp tác cùng có lợi đƣợc tăng cƣờng. Tuy nhiên trong bối cảnh quốc tế hiện nay, thế giới không chỉ chứng kiến xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển mà còn đối mặt với những vấn đề mới nảy sinh tạo ra những thách thức cho những thiết chế hợp tác toàn cầu nhƣ Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Âu (EU), và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng nhƣ cho quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001 ở Mỹ, nguy cơ chủ nghĩa khủng bố đã trở thành mỗi hiểm họa đe dọa hầu hết các quốc gia dân tộc.

Tuy nhiên, thảm họa này cũng tạo “cơ hội” để tiến hành cuộc thập tự chinh mới, để hiện diện quân sự ở bất kì quốc gia nào trên thế giới với danh nghĩa chống khủng bố. Với hai cuộc chiến Mỹ phát động sau đó ở Afganistan (2001) và Iraq (2003) đã khuấy đảo nền hòa bình ở Trung Đông trong suốt những năm sau đó và đến nay đây vẫn là một lò lửa chính trị nơi các cƣờng quốc tranh đấu, kèm theo đó là rất nhiều vấn đề khác. Tình hình quốc tế hiện nay có thể đƣợc mô tả qua các hiện tƣợng: bất an và bất ổn dẫn đến không thể đoán trƣớc đƣợc [49; tr. Các sự kiện gần diễn ra ở Bắc Phi và Trung Đông rộng lớn đang chứng tỏ điều này; những rối ren đòi tự do dân chủ “kiểu phƣơng Tây” của phong trào Mùa xuân Ả rập, hệ quả đó là sự bất ổn 12 về chính trị của các nƣớc Bắc Phi, các nƣớc Trung Đông.

Một tâm chấn của thế giới khác, chính là sự trỗi dậy của lực lƣợng khủng bố tự xƣng Nhà nƣớc Hồi giáo (IS) - một trong những thế lực khủng bố lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Nguyên nhân đƣợc các nhà nghiên cứu chỉ ra, đó là do các quốc gia phƣơng Tây can thiệp vào chính trị với chiêu bài hòa bình, dân chủ. Họ đã sử dụng sức mạnh của internet để kích động quần chúng nhân dân, tạo nên các làn sóng biểu tình, nổi dậy lật đổ chính quyền đƣơng nhiệm nhằm tạo dựng chính quyền mới thân phƣơng Tây, tiện lợi cho các mục đích cá nhân. Mục tiêu của các cuộc nổi dậy mà ban đầu phƣơng Tây ca ngợi "vì tự do và dân chủ" cuối cùng có kết cục trái ngƣợc hoàn toàn: các nƣớc ở thế giới Ả rập: quốc gia thì hỗn loạn, đất nƣớc tan rã và sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo cực đoan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ