Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chính sách đầu tư vào nông nghiệp của chính quyền cấp tỉnh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chính sách đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn của chính quyền tỉnh Lào Cai. Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đầu tư vào nông nghiệp của chính quyền tỉnh Lào Cai. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƢ VÀO NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chính sách đầu tƣ vào nông nghiệp, nông thôn 1.
Khái niệm chính sách đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn 1. Khái niệm Khái niệm chính sách được nhiều tác giả nghiên cứu từ các giác độ khác nhau để đưa ra các quan điểm khác nhau. Đối với các tổ chức nói chung, chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại (Vũ Cao Đàm, Trần Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hưng, 2011). Từ giác độ nhà nước, chính sách kinh tế- xã hội (chính sách công) là tổng thể các quan điểm, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội lặp đi lặp lại, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước (Nguyễn Thị Lệ Thúy và ùi Thị Hồng Việt, 2012).
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân, được hình thành do phân công lao động xã hội và là một trong những ngành kinh tế quan trọng, phức tạp. Theo từ điển ách khoa toàn thư: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản”. Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới trong điều kiện đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập và biến đổi khí hậu, vai trò của 6 nông nghiệp không hề bị mất đi mà ngược lại càng được coi trọng.
Phát triển nông nghiệp là điều kiện, phương tiện để nền kinh tế đạt được sự bền vững. Nông nghiệp là ngành sản xuất đặc thù với những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không có như: sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống; sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, sản phẩm nông nghiệp luôn diễn ra các biến đổi về sinh học gắn liền với tác động của tự nhiên và không đồng nhất; chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp là hộ nông dân và gắn liền với nông thôn; sản xuất nông nghiệp có giá trị gia tăng thấp nên rất khó khăn trong huy động các nguồn lực để phát triển. Nông thôn là khu vực địa lý mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của người dân. Nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên.
Ở Việt Nam, nhìn chung trình độ tiếp cận thị trường, sản xuất hàng hóa nông thôn còn thấp so với thành thị, thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói cao. Từ các khái niệm và đặc điểm của chính sách, nông nghiệp và nông thôn trình bày ở trên, có thể đưa ra khái niệm chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn là “tổng thể các mục tiêu và biện pháp tác động của nhà nước có liên quan đến nông nghiệp, nông thôn nhằm tác động vào đối tượng cụ thể là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX), liên hiệp HTX, doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp với mục đích cuối cùng là thu hút các tổ chức, cá nhân đầu tư vào ngành nông nghiệp theo những mục tiêu nhất định, trong một thời hạn nhất định”. Chủ thể và đối tượng chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn Chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Chính vì vậy trong quá trình tổ chức triển 7 khai thực hiện chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn cần huy động sự tham gia của các bên vào quá trình thực hiện chính sách.
Các bên tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện chính sách bao gồm: các cơ quan trong bộ máy nhà nước; các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức đoàn thể nhân dân; các cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền và các cá nhân, công dân trong xã hội. nhằm đưa chính sách vào thực tế. Đối tượng của chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn là các tổ chức, cá nhân đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, bao gồm: - Cá nhân - Hộ gia đình - Tổ hợp tác - Hợp tác xã - Liên hiệp hợp tác xã - Doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vai trò chính sách đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn - Cơ sở hạ tầng được cải thiện: Đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành nông nghiệp bao gồm các hạng mục, như: Đầu tư cho thủy lợi, đê điều, hệ thống điện, đường giao thông nội đồng, kho tàng, bến bãi.
Việc đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp được xem là có tác động kép, không chỉ là động lực để chuyển dịch sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, tập trung, quy mô lớn, mà còn kéo theo sự thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. - Tiếp cận được nguồn vốn phong phú trong phát triển: Xác định rõ vốn là điều kiện có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP, ngày 7-9-2018, của Chính phủ, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, ngày 9-6- 2015, của Chính phủ, về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, 8 nông thôn, có nhiều điểm đột phá mới về cho vay đối với các dự án nông nghiệp công nghệ cao, cụ thể: Khách hàng có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh trong khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng nông nghiệp công nghệ cao được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án; doanh nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhưng có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp không thuộc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án. - Nguồn nhân lực cho phát triển nông nghiệp được nâng cao: Lao động là một trong ba nhân tố của bất của quá trình sản xuất nào và trong thời đại hiện nay khi mà nguồn lực trở nên khan hiếm thì nó được xem là yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất, vai trò của nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong nông nghiệp nông thôn nói riêng, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yếu tố quan trọng, góp phần cho sự phát triển của nông nghiệp công nghệ cao, phát triển kinh tế đất nước. - Đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước về khoa học - công nghệ theo hướng thị trường, từng bước hình thành thị trường khoa học - công nghệ, tạo động lực cho nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong nông nghiệp.
- Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản: Trong thời gian qua, Việt Nam đã có những nỗ lực lớn trong công tác tổ chức và phát triển thị trường ở cả trong và ngoài nước. Nhu cầu của xã hội ngày càng đòi hỏi những nông sản có chất lượng cao hơn, tạo ra động lực cho sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Đối với thị trường ngoài nước, Việt Nam đã và đang tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, cho thấy sự tích cực của Nhà nước trong việc tìm kiếm, mở rộng thị trường cho nông sản Việt Nam. Mục tiêu và nguyên tắc của chính sách đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn 1.
Mục tiêu chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn Mục đích của chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn là nhằm đạt được các mục tiêu trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đề ra thông qua: tăng giá trị sản xuất nông nghiệp; phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; nâng cao mức sống của dân cư nông thôn; sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường một cách bền vững và hiệu quả. Mục tiêu chung của chính sách đầu tư vào nông nghiệp nông thôn là tăng đầu tư vào nông nghiệp nông thôn về số vốn đầu tư, số nhà đầu tư và số dự án đầu tư, góp phần vào tăng giá trị sản xuất nông nghiệp; phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ đưa ra tại Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2017 về cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017-2020 là: - Tốc độ tăng GDP nông nghiệp đạt khoảng 3%/năm; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân đạt từ 3,5%/năm; tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%; lao động nông nghiệp được đào tạo đạt khoảng 22%. - Thu nhập của cư dân nông thôn tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015; 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 15.000 hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả; hầu hết dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.
- Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái, giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp; tỷ lệ che phủ rừng đạt 42%.