Chương 1: Cơ sở lý luận của thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Hải Dƣơng Chương 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Hải Dƣơng hiện nay. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ ản liên quan đến đề tài luận văn 1. Lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn 1.
Lao động nông thôn Lao động là hoạt động có mục đích của con ngƣời nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Theo Các Mác “Lao động trƣớc hết là một quá trình diễn ra giữa con ngƣời và và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con ngƣời làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [37, t. Trong quá trình sản xuất, con ngƣời sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tƣợng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con ngƣời. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: “Lực lƣợng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những ngƣời không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm”.
Đối với các nƣớc khác nhau thì có cách tiếp cận không giống nhau về nguồn lao động. Có quốc gia coi nguồn lao động là toàn bộ ngƣời lao động dƣới dạng tích cực (đang tham gia lao động) và dạng tiềm tàng (có khả năng lao động nhƣng chƣa tham gia lao động vì những lý do khác nhau). Một số quốc gia nhất là những quốc gia có nền kinh tế phát triển quan niệm nguồn lực lao động đƣợc giới hạn trong số những ngƣời đang tham gia lao động và những ngƣời có nhu cầu việc làm nhƣng chƣa tìm đƣợc việc làm, không bao gồm những ngƣời có khả năng làm việc nhƣng không có nhu cầu tìm việc 10 làm. Những nƣớc khác nhau cũng có sự khác nhau về quy định độ tuổi Lao động căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế của từng giai đoạn và sức khỏe ngƣời dân.
Nhiều nƣớc lấy tuổi tối thiểu là 15 tuổi, còn tuổi tối đa vẫn còn có sự khác nhau.Có quy định là 60, có nƣớc là 65 thậm chí có nƣớc là 70. Tại Việt Nam, theo khoản 1 điều 1 Bộ luật Lao động năm 2013 thì: “Ngƣời lao động là ngƣời đủ từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động”. Từ những vấn đề trên có thể hiểu LĐNT theo các cách sau: Theo nghĩa rộng thì nguồn LĐNT là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những người có khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời có khả năng lao động nhƣng chƣa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn). Theo nghĩa hẹp thì LĐNT là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn có khả năng lao động được giới hạn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (ở Việt Nam: nam từ 15 đến 60 và nữ từ 15 đến 55 tuổi).
Khái niệm về LĐNT này có tính ƣu việt là khống chế đƣợc sự lạm dụng lao động trẻ em (dƣới 15) theo quy ƣớc quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế ở các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam, nền kinh tế còn kém phát triển, đời sống ngƣời dân còn khó khăn đặc biệt là ở nông thôn thì lao động trẻ em dƣới 15 tuổi hoặc những ngƣời trên độ tuổi lao động tham gia lao dộng, sản xuất còn chiếm tỷ lệ khá lớn. Từ đó ta có thể thấy nguồn lao động ở nông thôn rất dồi dào. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển KT - XH nông thôn nhƣng đồng thời cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.
Đặc điểm của nguồn lao động ở nông thôn Do LĐNT chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông lâm, ngƣ nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác. Vì vậy, LĐNT cũng có những đặc điểm khác với lao động ở các ngành kinh tế khác và đƣợc biểu hiện ở các mặt sau: Một là, LĐNT làm việc có tính chất thời vụ, chƣa có việc làm thƣờng xuyên. Điều này ảnh hƣởng đến nhu cầu lao động trong từng thời kỳ, đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp. Hai là: Chất lƣợng nguồn LĐNT chƣa cao.
Trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật cũng nhƣ trình độ tiếp cận thị trƣờng. Đặc điểm này cũng ảnh hƣởng đến khả năng tự tạo việc làm của ngƣời lao động. Ba là: do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của LĐNT. Bốn là: LĐNT có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp đƣợc tham gia bởi nhiều ngƣời ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những ngƣời ở ngoài độ tuổi lao động. Ngoài những đặc điểm trên, ngƣời nông dân và LĐNT nƣớc ta còn có ƣu điểm là cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt động nông nghiệp của mình. Tuy nhiên, LĐNT trong giai đoạn hiện này chủ yếu làm việc theo cảm tính do tập quán dẫn đến ngƣời nông dân không có định hƣớng phát triển hoạt động nông nghiệp rõ ràng nếu nhƣ không có sự tƣ vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của những ngƣời có kinh nghiệm. Thiếu việc làm, không tìm đƣợc việc làm, thời gian nhàn rỗi, phần lớn chƣa có nghề và chƣa đƣợc ĐTN là những đặc trƣng cơ bản của LĐNT.
Chính đặc điểm của ngƣời nông dân nhƣ trên làm cho vài trò 12 ĐTN càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và thành công của xây dựng nông thôn mới nói riêng. Đào tạo nghề và đặc trưng của đào tạo nghề - Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: “Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao”. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đƣa ra khái niệm: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Mục tiêu chung của ĐTN là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tƣơng ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, sức khỏe, có trách nhiệm nghề nghiệp, có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trƣờng làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lƣợng lao động; tạo điều kiện cho ngƣời học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
* Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu sau: - ĐTN gắn chặt với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trƣờng. Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo để ngƣời học trở thành ngƣời lao động trong các doanh nghiệp. 13 - Là hoạt động ĐTN nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, chiếm khoảng 80% thời gian học tập, có những nghề chiếm tời 90 - 100%. - Đối tƣợng học nghề là những ngƣời đã trƣởng thành, thậm chí đã lớn tuổi, trừ một số trƣờng hợp khác pháp luật quy định.
- Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Dạy nghề dài hạn; dạy nghề ngắn hạn; dạy nghề theo modul; dạy nghề kèm cặp; dạy nghề lƣu động. * Phân loại ĐTN: - Đào tạo chính quy là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ thời gian do cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp (gọi chung là cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp) thực hiện để đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. - Đào tạo thƣờng xuyên là hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hƣớng dẫn đối với các chƣơng trình đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chƣơng trình ĐTN nghiệp khác, đƣợc thực hiện linh hoạt về chƣơng trình, thời gian, phƣơng pháp, địa điểm đào tạo, phù hợp với yêu cầu của ngƣời học. Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.
Khái niệm chính sách Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, chính sách nói chung, chính sách ĐTN cho LĐNT nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong tăng trƣởng và phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội. Tuy nhiên, khi bàn về thuật ngữ chính sách, các nhà kinh tế vẫn chƣa có sự thống nhất hoàn toàn về khái niệm này. 14 + Theo từ điển Tiếng Việt, Chính sách là sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra [57, tr. Nhƣ vậy, khái niệm chính sách đồng nghĩa với sách lƣợc và kế hoạch, có tính cụ thể để đạt mục tiêu nhất định mà chủ thể nào đó theo đuổi.
Đồng thời, khái niệm này cũng gián tiếp thể hiện chính sách phải từ chủ trƣơng, đƣờng lối chính trị của Đảng, Nhà nƣớc và chính sách đó phải xuất phát từ thực tiễn, đƣợc thực tiễn kiểm nghiệm. Nghĩa là, sách lƣợc đƣợc xây dựng, ban hành và triển khai trong cuộc sống sẽ có tác động trở lại đến thực tiễn. + Theo Đại từ tiếng Việt, dƣới sự chủ biên Nguyễn Nhƣ Ý, đƣa ra khái niệm về chính sách, đó là: “chính sách là chủ trƣơng và các biện pháp của một Đảng phái, Chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội” [58, tr.