phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chính trị về chính sách đào tạo cán bộ, công chức cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp 22 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm chính trị, hệ thống chính trị Khái niệm chính trị: Thuật ngữ chính trị có nguồn gốc từ một danh từ tiếng Hy Lạp là Polis, một trong những khái niệm cho đến nay vẫn chưa được xác định thống nhất, thậm chí còn gây tranh luận gay gắt. Từ khi xuất hiện cho đến nay, bản thân đời sống chính trị cũng đã tiến hóa cùng với sự phát triển của đời sống xã hội. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chính trị, khái quát các khái niệm chúng ta có thể định nghĩa chính trị như sau: Chính trị là hoạt động của các nhóm xã hội và của cá nhân nhằm nhận thức và thể hiện lợi ích tập thể mâu thuẫn của mình, nhằm hoạch định những quyết định bắt buộc đối với toàn thể xã hội, được thực hiện nhờ quyền lực nhà nước [47, tr.
Chính trị không phải luôn tồn tại. Sự xuất hiện của nó phản ánh quá trình phức tạp hóa đời sống xã hội được chế định bởi sự phát triển thường xuyên các năng lực của con người và phân công lao động xã hội [47, tr. Phạm vi và nội dung của chính trị đã biến đổi về căn bản trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người. Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử, trình độ phát triển kinh tế và văn hóa của một xã hội cụ thể, người ta quan tâm tới chức năng xã hội của chính trị, hoặc là tới những phương tiện và những phương thức thực hiện các chức năng của chính trị [47, tr.
vai trò và ý nghĩa của chính trị như một thiết chế xã hội được quy định bởi những chức năng mà nó hoàn thành trong xã hội. Số lượng chức năng có thể khác nhau. Các chức năng của chính trị trong một xã hội cụ thể càng nhiều hơn bao nhiêu thì xã hội và bản thân lĩnh vực chính trị chi phối các lĩnh vực khác càng kém phát triển hơn bấy nhiêu. Quyền lực, trong ý nghĩa chung nhất, là năng lực và khả năng thực hiện ý chí của mình tác động đến hành động, hành vi của những người khác nhờ phương tiện 23 nào đó, như uy tín, quyền hành, sự cưỡng bức (kinh tế, chính trị, nhà nước, gia đình).
Quyền lực là quan hệ giữa những con người (nhóm người, tập đoàn người, cộng đồng người); đó là quan hệ đặc biệt - quan hệ ý chí giữa một bên nhận thức được, ý thức được lợi ích của mình và quyết tâm thực hiện lợi ích đó, thể hiện thành ý chí; còn bên kia thừa nhận, chấp hành ý chí đó. "Sự thừa nhận" là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong khái niệm quyền lực mà thiếu nó chỉ có thể là quyền uy.Ăngghen thì quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề. Quyền lực là sự tác động của chủ thể này đối với chủ thể khác, buộc chủ thể đó phải hành động theo kiểu cần thiết đối với nó. Quyền lực chính trị là quyền lực của một hay liên minh giai cấp, của các lực lượng xã hội để thực hiện sự thống trị hay lợi ích của mình cơ bản bằng nhà nước, thông qua nhà nước; là năng lực tổ chức và thực thi các giải pháp phân bố giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình trong tương quan nhất định với lợi ích các giai cấp và các lực lượng xã hội khác.
Bản chất của quyền lực chính trị là quan hệ giữa các giai cấp trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Ở nước ta hiện nay quyền lực chính trị thuộc về nhân dân lao động: Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là ý chí chung của quần chúng nhân dân lao động, thể hiện ở khả năng thực hiện lợi ích căn bản của những người lao động được thực hiện bằng quyền lực Nhà nước, bằng hoạt động, bằng quyền làm chủ trực tiếp hoặc gián tiếp của quần chúng thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cấu trúc thực hiện quyền lực chính trị ở nước ta trên hai mặt: nội dung và thực thể. Về mặt nội dung: cơ chế tạo thành từ ba khâu: Cương lĩnh, đường lối.
thể hiện mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền; Hệ thống Hiến pháp, pháp luật. với tư cách là sự thể chế hóa mục tiêu chính trị thành chế tài mang tính pháp lý; Hệ thống tổ chức thực hiện các quy định pháp lý, làm cho mục tiêu chính trị được hiện hóa trong đời sống xã hội. Về mặt thực thể: có ba loại tổ chức tương ứng đó là Chính Đảng của giai cấp cầm quyền; Cơ quan lập pháp do dân bầu cử ủy quyền; Cơ quan hành pháp, tư pháp 24 và các tổ chức chính trị- xã hội trong hệ thống chính trị; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ Khái niệm hệ thống chính trị: Khái niệm hệ thống chính trị có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng về cơ bản có thể tiếp cận theo ba cách: Tiếp cận từ góc độ tổ chức và chức năng: Hệ thống chính trị là một hệ thống các cơ quan, tổ chức thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội. Từ góc độ này, hệ thống chính trị được hiểu là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, các đảng chính trị hợp pháp và nhà nước của giai cấp cầm quyền cùng với các mối quan hệ qua lại giữa các thiết chế đó, tác động vào các quá trình kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ, duy trì, phát triển xã hội, đảm bảo quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền [46].
Tiếp cận từ góc độ bản chất và tính chỉnh thể: Hệ thống chính trị là hệ thống thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, không chỉ gồm các khâu, các bộ phận hợp thành về mặt tổ chức mà còn bao gồm cả mục tiêu và điều kiện bảo đảm cho các khâu, các bộ phận của hệ thống vận hành được. Trong xã hội hiện đại, đứng trên quan điểm chủ quyền nhân dân, khi nói đến hệ thống chính trị là nói đến mặt nội dung của nền dân chủ. Do vậy, từ góc độ này, HTCT được hiểu là hệ thống đảm bảo thực hành dân chủ [46]. Tiếp cận từ góc độ cơ chế thực hiện: HTCT là tổng thể các cơ chế đảm bảo cho sự vận hành của quyền lực chính trị ( cơ chế quyết định đường lối chính trị; cơ chế thực hiện đường lối chính trị; cơ chế tham gia, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị) [46].
Một cách cụ thể hơn, HTCT là hệ thống các thiết chế thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội gồm các đảng phái chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập hợp pháp, có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị, có mối quan hệ ràng buộc, tác động lẫn nhau xoay quanh việc tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị [46]. 25 Ở Việt Nam, thuật ngữ hệ thống chính trị được sử dụng lần đầu tiên tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, sau đó được chính thức đưa vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 và được sử dụng phổ biến trong các văn kiện của Đảng cũng như trong đời sống chính trị đến nay. Theo quan điểm chính thống thể hiện trong các văn kiện của Đảng ta thì HTCT bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội từ trung ương đến cơ sở, liên quan đến cả cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, bố trí cán bộ, phương thức hoạt động, lề lối làm việc và chế độ, chính sách đãi ngộ. rất phức tạp và nhảy cảm [11].
Hệ thống chính trị nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân [23]. Nguồn lực trong hệ thống chính trị: Nguồn lực thường được hiểu là toàn bộ các yếu tố có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của sự vật hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội. Khái niệm nguồn lực có phạm vi bao quát rộng, nó hàm chứa không chỉ các yếu tố vật chất, tinh thần đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế mà cả những yếu tố mới ở dạng tiềm năng; nó không chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hay nơi có thể cung cấp sức mạnh; nó phản ánh không chỉ có số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố và sự biến đổi không ngừng của các yếu tố đó. Với cách hiểu này thì nguồn lực là hệ thống các yếu tố cả vật chất và tinh thần đã, đang và sẽ có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần thúc đẩy quá trình 26 cải biến tự nhiên và xã hội của một quốc gia, dân tộc hay một địa phương, đơn vị.
Từ khái niệm nguồn lực có thể thấy, nguồn lực trong hệ thống chính trị chính là đội ngũ cán bộ, công chức. Vai trò, nhiệm vụ trong hệ thống chính trị được thực hiện như thế nào, đến đâu phụ thuộc trước hết vào nguồn lực cán bộ, công chức, phụ thuộc vào số lượng, chất lượng, cơ cấu cũng như hiệu quả thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức.