Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ Ở nước ta, thuật ngữ cán bộ, công chức (CBCC) đã có từ rất lâu, sử dụng khá phổ biến trong hệ thống chính trị và được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật. Tại Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 quy định: “Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [43, tr.
Pháp lệnh sửa đổi một số điều Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 vẫn khẳng định cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế nhưng mở rộng thêm đối tượng điều chỉnh CBCC bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ ở các cơ quan Nhà nước, tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội cấp xã và những người được tuyển dụng vào cơ quan Nhà nước cấp xã. Thuật ngữ cán bộ, công chức trước đây thường dùng chung chưa tách biệt, được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng. Mãi đến khi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 ra đời, phân biệt rõ giữa khái niệm “cán bộ” và “công chức”. Tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [29, tr.
9 Luan van Cán bộ, công chức cấp huyện là cán bộ, công chức được phân công, bố trí làm việc ở các cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện. Cụ thể là làm việc trong các cơ quan chuyên môn, giúp việc cho UBND cấp huyện, cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy cấp huyện và cơ quan mặt trận tổ quốc và đoàn thể chính trị xã hội cấp huyện. Qua thực tiễn hoạt động và nghiên cứu khoa học pháp lý, khái niệm cán bộ có thể nhận diện từ nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng căn bản khái niệm cán bộ đã được quy định cụ thể trong Luật CBCC năm 2008 và các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Từ đó, có thể định nghĩa khái niệm cán bộ như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), trong biên chế, xếp lương theo ngạch, bậc phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng lương ngân sách nhà nước. Khái niệm công chức Thuật ngữ “công chức” được ghi nhận đầu tiên trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành về Quy chế công chức Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh công chức theo Quy chế này là rất hẹp chỉ bao gồm những người làm việc thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, có nghĩa dùng để chỉ những người làm việc trong hệ thống hành chính nhà nước. Ngày 25/5/1991 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 169/HĐBT mở rộng phạm vi điều chỉnh công chức: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được thu xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”.
10 Luan van Để xây dựng và quản lý đội ngũ CBCC, ngày 26/02/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh CBCC (sửa đổi bổ sung năm 2003), trong đó xác định rõ đối tượng điều chỉnh CBCC hành chính, sự nghiệp, bổ sung cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh, xây dựng chế độ công chức dự bị trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội. Từ khi Luật CBCC 2008 ra đời (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định chi tiết đối tượng điều chỉnh công chức được quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật CBCC: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [30, tr. Như vậy, có thể hiểu công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn tương ứng với vị trí việc làm, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách. Khái niệm đào tạo cán bộ, công chức Đào tạo được xem là một nội dung rất quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các cơ quan, tổ chức Nhà nước nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC vững vàng chuyên môn, tinh thông nghiệp vụ, trung thành với Nhà nước và tận tụy với công việc, sẵn sàng phục vụ nhân dân.
11 Luan van Đào tạo là quá trình tác động đến CBCC một cách có hệ thống làm cho CBCC đó tiếp thu và nắm chắc những, kỹ năng, kiến thức. và có sự phân công hợp lý, đóng góp vào sự phát triển theo mong muốn của xã hội nói chung. Đào tạo là quá trình làm cho CBCC hoàn thiện hơn theo những qui định, tiêu chuẩn, điểu kiện nhất định. Thời gian đào tạo từ một năm học trở lên.
Như vậy, có thể định nghĩa đào tạo là một hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và được thực hiện theo một chương trình nhất định nhằm truyền đạt cho người học hệ thống những kiến thức, kỹ năng nhất định. Hoạt động đào tạo được tổ chức trong các cơ sở giáo dục với thời gian dài, nội dung và chương trình đào tạo phù hợp với các cấp, bậc đào tạo khác nhau. Cuối mỗi khóa đào tạo, người học sẽ được cấp bằng chứng nhận tốt nghiệp. Khái niệm bồi dưỡng cán bộ, công chức Bồi dưỡng là quá trình tác động đến con người làm cho người đó phát triển năng lực hoặc phẩm chất, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, là tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở cập nhật những kiến thức mới, kỹ năng đã được đào tạo để họ thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn.
Bồi dưỡng để cập nhật, trang bị thêm những kiến thức mới, kỹ năng, thái độ nhằm giúp cho công chức tiếp cận nhiệm vụ mới gắn với vị trí việc làm mới. Bồi dưỡng nhằm hướng tới các mục tiêu như sau: Thứ nhất, cung cấp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, cách thức làm việc đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn, chức danh tương lai gắn vị trí việc làm của CBCC theo kế hoạch bồi dưỡng của tổ chức. Thứ hai, trang bị, cập nhật kiến thức mới, kỹ năng, thái độ và phương pháp làm việc cần thiết để giúp CBCC làm quen, thích ứng với vị trí công tác, việc làm mới do luân chuyển, điều động, biệt phái, đề bạt, bổ nhiệm. 12 Luan van Như vậy, có thể định nghĩa bồi dưỡng CBCC là quá trình làm biến đổi hành vi con người thông qua việc học tập một cách bài bản, có kế hoạch, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, làm gia tăng năng lực, để họ thực hiện công việc được giao tốt hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, phát riển của huyện nhà nói riêng và sự nghiệp phát triển của đất nước nói chung.
Khái niệm thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Chính sách công là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên các phương tiện truyền thông và trong các tài liệu học trên thế giới và ở nước ta đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công. Theo Thomas Dye “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”; B.Guy Peter “…chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”. Nguyễn Thị Hoa thì cho: “Chính sách công là tập hợp các quyết định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hướng đến các nhóm đối tượng thụ hưởng nhằm phục vụ cho lợi ích công, cho sự phát triển của xã hội” Theo PGS.TS Hồ Việt Hạnh thì: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể đựơc trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề về lợi ích chung của cộng đồng”. Như vậy, có thể định nghĩa chính sách công là chính sách của Nhà nước, là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành tập hợp các quyết định có liên quan với nhau nhằm thực hiện mục tiêu cụ thể và là công cụ để giải quyết các vấn đề của xã hội thuộc chức năng quản lý của Nhà nước, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội và phục vụ người dân.
13 Luan van Ngoài ra, chính sách công được nhìn nhận từ những khía cạnh như chính sách công là một chính sách của nhà nước, do nhà nước ban hành và nội dung của chính sách công được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong thời gian ngắn hạn hoặc dài hạn.