phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 9 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Dân tộc Dân tộc là một trong những hình thái cộng động ngƣời, đƣợc hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài ngƣời và đang là một trong những vấn đề quan trọng, phức tạp trên thế giới. Khái niệm dân tộc đƣợc hiểu trên hai bình diện nhƣ sau: Theo nghĩa cộng đồng tộc người: Theo nghĩa thông thƣờng, khái niệm dân tộc để chỉ một cộng đồng tộc ngƣời (Ethnic, Ethnie) có chung ngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc, đời sống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc.
Theo nghĩa này ở Việt Nam có dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Mƣờng, dân tộc Mông, dân tộc Dao, dân tộc Khmer, dân tộc Êđê…Trong một dân tộc có thể bao gồm nhiều nhóm địa phƣơng, có những đặc trƣng về văn hóa, về tiếng nói…gần gũi nhau. Chẳng hạn, ngƣời Dao có Dao Đại bản, Dao Tiểu bản, Dao Quần trắng…; ngƣời Mông có Mông Hoa, Mông Xanh, Mông Đen…Với cách nói thông thƣờng, từ dân tộc có thể thay bằng từ ngƣời, nhƣ ngƣời Thái hay dân tộc Thái, ngƣời Êđê hay dân tộc Êđê…Tuy nhiên, từ ngƣời còn ý nghĩa rộng lớn hơn, chỉ cƣ dân của một quốc gia dân tộc, nhƣ ngƣời Việt Nam, ngƣời Pháp, ngƣời Đức… Về mặt lịch sử, cộng đồng tộc ngƣời phát triển từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc rồi dần trở thành dân tộc. Các nhà nghiên cứu phƣơng Tây cho rằng thị tộc, bộ lạc tƣơng ứng với thời kỳ công xã nguyên thủy; bộ tộc tƣơng ứng với thời kỳ xuất hiện giai cấp, nhà nƣớc và giai đoạn tiền tƣ bản chủ nghĩa; dân tộc ứng với thời kỳ tƣ bản chủ nghĩa trở đi. Trong khi đó, ở phƣơng Đông, do yêu cầu của đắp đê, làm thủy lợi, bảo vệ lãnh thổ…nhiều dân tộc hình thành từ rất 10 sớm, không gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tƣ bản.
Sở dĩ có sự không thống nhất nhƣ trên là do chƣa phân biệt rõ khái niệm dân tộc theo nghĩa cộng đồng tộc ngƣời và dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc. Theo nghĩa quốc gia dân tộc: Theo nghĩa rộng, dân tộc là một cộng đồng ngƣời sinh sống trong một quốc gia, một nƣớc thống nhất, có chung một nhà nƣớc, một lãnh thổ, có chung một nền kinh tế, một chế độ chính trị - xã hội, có ngôn ngữ và văn hóa chung, thống nhất, nhƣ dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, dân tộc Đức, dân tộc Anh…Các cộng đồng tộc ngƣời cùng sống trên một địa bàn lãnh thổ do nhu cầu tồn tại và phát triển nên có mối quan hệ với nhau. Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài hình thành nên các quốc gia, bao gồm địa bàn sinh sống của một hay nhiều cộng đồng tộc ngƣời. Ở phƣơng Tây, quá trình này gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tƣ bản và hình thành thị trƣờng dân tộc thống nhất.
Còn ở phƣơng Đông, các quốc gia dân tộc hình thành sớm hơn, gắn liền với các quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, khai phá thiên nhiên và bảo vệ đất nƣớc. Trong nhiều tác phẩm V.Lenin đã dùng thuật ngữ quốc gia – dân tộc tƣơng ứng với thuật ngữ dân tộc (Nation) để chỉ cộng đồng cƣ dân của một quốc gia nhất định, bao gồm nhiều dân tộc, nhiều tộc ngƣời. Ngày nay, hầu nhƣ tất cả các quốc gia trên thế giới đều là quốc gia đa dân tộc. Trong nói và viết, ngƣời ta còn dùng từ nhân dân để nói về dân cƣ của một quốc gia.
Ngƣời ta có thể nói dân tộc Việt Nam hay nhân dân Việt Nam, dân tộc Pháp hay nhân dân Pháp…cách dùng này khá phổ biến trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, sách, báo chính trị….Trong một quốc gia đa dân tộc thƣờng có một, hai dân tộc chiếm số đông, thƣờng đƣợc gọi là dân tộc thiểu số. Đƣợc gọi là dân tộc đa số hay thiểu số chủ yếu căn cứ vào số lƣợng ngƣời chứ không căn cứ vào trình độ phát triển. Dân tộc đa số trong một quốc gia 11 thƣờng là lực lƣợng nòng cốt, là dân tộc đại diện cho quốc gia đó. Còn trong một số quốc gia không có dân tộc chiếm đa số thì dân tộc nào giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của quốc gia là dân tộc nòng cốt, đại diện.
Nhƣ vậy, khái niệm dân tộc cần đƣợc hiểu theo hai bình diện, dân tộc là cộng đồng tộc ngƣời và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cƣ dân của một quốc gia. Thực chất hai vấn đề không giống nhau, nhƣng có liên quan mật thiết, hữu cơ với nhau. Khi nói đến dân tộc Việt Nam không thể không nói đến 54 dân tộc (tộc ngƣời) đang sinh sống ở nƣớc ta hoặc ngƣợc lại, khi nói đến các dân tộc ở Việt Nam không thể không nói đến cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm "dân tộc" đƣợc hiểu theo nghĩa thứ nhất, tức là cộng đồng tộc ngƣời, không phân biệt trình độ phát triển, đa số hay thiểu số, sống ở phạm vi quốc gia nào, bao gồm bốn điểm chung lớn nhất, đó là: chung ngôn ngữ (tiếng nói); chung về lịch sử - nguồn gốc; chung về đời sống văn hóa; cùng tự nhận mình là dân tộc đó (ý thức tự giác chung về dân tộc).
Theo các tài liệu chính thức, nƣớc ta có 54 dân tộc đƣợc hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử. Dân tộc Kinh (Việt) là dân tộc đa số, chiếm hơn 85,7% dân số. Trong các dân tộc thiểu số, quy mô dân số cũng có sự chênh lệch đáng kể. Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhƣng các dân tộc luôn luôn coi nhau nhƣ anh em một nhà, quý trọng, thƣơng yêu đùm bọc và gắn bó với nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chính sách dân tộc Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nƣớc ta là một hệ thống các chủ trƣơng, giải pháp, nhằm thực hiện quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc, trong đó có sự quan tâm đến các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, chính 12 sách dân tộc của Việt Nam luôn đƣợc bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nƣớc. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc, quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc tiếp tục đƣợc khẳng định và bổ sung nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các chính sách dân tộc thể hiện mối quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc đến vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.
Chính sách đƣợc hiểu là sự thể hiện cụ thể của đƣờng lối chính trị chung; dựa vào đƣờng lối chính trị, cƣơng lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà định ra chính sách về một lĩnh vực nhất định cùng với các mục tiêu, biện pháp, kế hoạch để thực hiện đƣờng lối ấy. Nhà nƣớc ban hành nhiều loại chính sách nhƣ: chính sách kinh tế, chính sách quốc phòng, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách dân tộc.v… Chính sách dân tộc là một trong những chính sách của Đảng và Nhà nƣớc ta, là sự thể hiện đƣờng lối của Đảng về vấn đề dân tộc mà cụ thể là các chính sách về xóa đói giảm nghèo; chính sách về đầu tƣ phát triển kinh tế - xã hội khu vực đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ về đất đai, nhà ở, tài nguyên, môi trƣờng sinh thái; chính sách y tế - văn hóa – xã hội.v… Chính sách đƣợc thể hiện qua các Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam; Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật. Thực hiện chính sách dân tộc đƣợc hiểu là hoạt động có mục đích của con ngƣời biến chính sách, pháp luật chứa đựng chính sách thành hoạt động thực tế của các chủ thể thực hiện chính sách. Nhƣ vậy, các chủ thể thực hiện chính sách phải hành động phù hợp với mục tiêu, biện pháp, kế hoạch đã đƣợc đề ra trong chính sách.
Việc thực hiện chính sách có nhiều hình thức: tuân thủ chính sách, chấp hành chính sách, sử dụng 13 chính sách, áp dụng chính sách. Tuân thủ chính sách đƣợc hiểu là một hình thức thực hiện chính sách trong đó các chủ thể không đƣợc tiến hành những hoạt động trái với mục tiêu, biện pháp, kế hoạch mà chính sách đề ra. Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn xác định chính sách dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng; đƣợc các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán theo nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn.
Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”. Thực hiện chính sách dân tộc Thực hiện chính sách dân tộc là quá trình đƣa chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc vào thực tiễn, đến với ngƣời dân nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Là quá trình cơ quan chức năng, triển khai các nội dung chính sách dân tộc đƣợc đề ra, đƣợc cụ thể hóa thành chính sách trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng, nhằm hƣớng tới đối tƣợng hƣởng thụ chính sách. Thực hiện chính sách dân tộc góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, kết hợp hài hòa giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, phát triển toàn diện mọi mặt đời sống xã hội ở khu vực dân tộc thiểu số, khai thác mọi tiềm năng đất nƣớc, địa phƣơng và các dân tộc.