CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI CÔNG AN XÃ 1. Khái quát về công an xã và chính sách đãi ngộ đối với công an xã 1. Khái niệm công an xã Để tìm hiểu khái niệm công an xã, cần xem xét lịch sử hình thành và phát triển của ngành công an. Sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, để từng bước củng cố tổ chức bộ máy chính quyền các cấp, ngày 22 tháng 11 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 63/SL về “Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân”.
Điều 76 Sắc lệnh quy định: “công việc trị an ở cấp xã do một ủy viên trong Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính xã phụ trách”. Việc khẳng định sự cần thiết phải giao công việc trị an ở cấp xã cho một ủy viên trong Ủy ban kháng chiến kiêm hành chính xã phụ trách trong một văn bản pháp luật Nhà nước ta lúc đó đã chứng tỏ quan điểm chỉ đạo của Đảng cũng như sự đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của việc đảm bảo trật tự, trị an trong việc thực hiện chức năng chuyên chính của chính quyền cách mạng ở nông thôn. Đây là quy định pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng tổ chức chỉ đạo hoạt động của lực lượng làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự, trị an ở cơ sở - tổ chức tiền thân của lực lượng công an xã sau này. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều địa phương đã xây dựng được đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở cơ sở với các tên gọi khác nhau.
Đầu năm 1948, Hội đồng Chính phủ đã quyết định “đặt ở mỗi xã một ủy viên trật tự xã” để “ trông coi” công việc trị an phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thực hiện Quyết định của Hội đồng Chính phủ, ngày 9 tháng 3 năm 1948, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành Thông tư số 113 - NV/TT về việc thành lập Ban trật tự xã, để củng cố một bước về tổ chức và hoạt động 9 của lực lượng Bảo vệ an ninh trật tự ở xã. Thông tư quy định “công việc trị an trong mỗi xã phải giao cho một ủy viên trong nom và chịu trách nhiệm trước ủy ban kháng chiến kiêm hành chính xã. Ủy viên đó phải chọn trong các ủy viên của ủy ban kháng chiến kiêm hành chính xã và sẽ gọi là ủy viên trật tự, nhưng có thể kiêm việc nữa nếu cần thiết.
Trong trường hợp này sẽ gọi là “Ủy viên trật tự”. Nếu xã có nhiều thôn cách biệt, một ủy viên trật tự không thể nào trông coi hết được thì ở mỗi thôn có thể đặt một tổ trưởng trật tự thôn do ủy ban kháng chiến kiêm hành chính xã chọn trong những người khỏe mạnh và có tinh thần vững chắc. Uỷ viên trật tự xã có nhiệm vụ: Tổ chức bố trí và kiểm soát sự tuần phòng trong xã hay trong các thôn; thi hành mệnh lệnh của Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính xã và Ban tư pháp xã”. Thông tư số 113 - NV/TT của Bộ Nội vụ cụ thể hóa thêm một bước các quy định của Sắc lệnh số 63/SL năm 1945 vừa là chỉ thị để các cấp chính quyền chú ý tới công việc trị an trong các xã, thôn, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cần thiết để triển khai tổ chức và hoạt động của lực lượng giữ gìn trật tự trị an một cách rộng khắp, thống nhất, thiết thực phục vụ nhiệm vụ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Ngày 10 tháng 10 năm 1950, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 438 - NV/NĐ, tại Điều 2 quy định: “thành lập tại mỗi xã trong toàn quốc một Ban Công an gọi là Ban Công an xã, nằm trong hệ thống tổ chức của Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của Uỷ ban kháng chiến hành chính xã, chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của Ty Công an tỉnh và Công an quận huyện nếu có ủy quyền của Công an tỉnh”. Trưởng, Phó ban Công an xã do Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện đề cử, Ty Công an và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh xem xét ra quyết định cử. Danh sách tổ viên do Uỷ ban kháng chiến hành chính chọn, Ty Công an tỉnh thỏa thuận và Uỷ ban kháng chiến huyện duyệt. 10 Về chế độ, chính sách, Điều 6 và Điều 7 Nghị định số 438 - NV/NĐ quy định: Nhân viên công an xã có phù hiệu riêng trong khi thi hành nhiệm vụ, nhưng không phải viên chức Chính phủ và không có lương.
Trong một số trường hợp vì nhu cầu công việc, không thể tham gia sản xuất được thì công an xã được hưởng Bảo hiểm xã hội hoặc phụ cấp hàng tháng. Về kinh phí đảm bảo cho hoạt động: các khoản chi phí về trụ sở công an xã, dụng cụ văn phòng, phụ cấp hàng tháng đều do ngân sách xã đài thọ. Nghị định số 438 - NV/NĐ về việc thành lập Ban Công an xã là văn bản pháp lý đầu tiên quy định rất cụ thể, toàn diện, đầy đủ về tên gọi, tổ chức, nhiệm vụ, chế độ, chính sách, kinh phí đảm bảo cho hoạt động của công an xã trong phạm vi cả nước. Trong quy định của Nghị định số 438 - NV/NĐ có một số điểm đáng chú ý: Ban Công an xã nằm trong hệ thống tổ chức của Việt Nam Công vụ nhưng lại chịu sự lãnh đạo “ song trùng” (đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của chính quyền xã và dưới quyền điều khiển chuyên môn của ngành Công an); Ban Công an xã được xác định nằm trong hệ thống tổ chức của Việt Nam công vụ nhưng nhân viên công an xã lại không phải viên chức Chính phủ nên không có lương.
Ngày 13 tháng 5 năm 1953, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 74/NĐ/CA về tổ chức ở Bộ Công an và công an các địa phương, trong đó không còn quy định Ban Công an xã là cấp công an cơ sở thuộc hệ thống tổ chức lực lượng Công an nhân dân. Từ đó trở đi tổ chức và hoạt động của Ban Công an xã đặt dưới sự quản lý, điều hành trực tiếp của Uỷ ban kháng chiến hành chính xã và sự hướng dẫn chỉ đạo về nghiệp vụ của công an cấp trên. Sau ngày Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, lực lượng công an xã trong cả nước tiếp tục được củng cố, kiện toàn về mọi mặt. Ngày 11 20 tháng 12 năm 1981, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ đã ban hành Quyết định tạm thời số 114/QĐ - BNV quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của công an xã.
Ngày 12 tháng 10 năm 1989, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 137/QĐ - BNV (X13) quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và lề lối làm việc của công an xã. Ngày 28 tháng 11 năm 1989, Bộ Nội vụ đã ban hành quy định số10/BNV về một số chính sách, chế độ đối với công an xã. Theo quy định này công an xã được hưởng theo quy định chung của Nhà nước đối với cán bộ cơ sở, ngoài ra, tùy tình hình ngân sách địa phương có thể phụ cấp thêm cho công an xã do chính quyền địa phương quyết định. Ngoài ra còn quy định khá đầy đủ về các chính sách khác như: Thương binh, liệt sĩ, chế độ được hưởng khi tham dự các lớp huấn luyện nghiệp vụ, chế độ nghỉ việc, chính sách khen thưởng, kỷ luật….
Sau một quá trình vận hành, ngày 21 tháng 11 năm 2008 Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Pháp lệnh Công an xã. Tại Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh Công an xã 2008 quy định: “Công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân, làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã”. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2009/NĐ- CP ngày 7 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Công an xã, Bộ Công an ban hành Thông tư số 12/2010/TT-BCA ngày 8 tháng 4 năm 2010 thực hiện các Pháp lệnh và Nghị định của Chính phủ là cơ sở để lực lượng công an xã hoạt động bảo vệ an ninh trật tự. Từ lược sử phát triển về nhận thức, tổ chức máy được thể hiện và quy định trong các văn bản pháp luật nêu trên, đi đến nhận thức thống nhất hiện nay về Công an xã là: lực lượng vũ trang bán chuyên trách, 12 thuộc hệ thống tổ chức của Công an nhân dân vì họ không có quân hàm, không được đào tạo chính quy ở các trường của Bộ Công an (ngoài Trưởng công an), làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã.
Tuy vậy, đây vẫn là một lực lượng chính thức của Công an Việt Nam. Họ có quân phục thống nhất trong toàn lực lượng. Công an xã có con dấu riêng và hoạt động trên cơ sở pháp lý quy định bởi pháp lệnh công an xã. Như vậy có thể quan niệm: Công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách được tổ chức theo đơn v hành chính cấp xã ở nh ững nơi không bố trí lực lượng công an chính quy, có trách nhiệm tham mưu cho cấp uỷ Đảng và uỷ ban nhân dân cấp xã về công tác đảm bảo ANTT trên đ a bàn xã và thực hiện việc quản lý Nhà nước về an ninh trật tự „ 1.
Khái niệm chính sách đãi ngộ đối với công an xã Để tìm hiểu khái niệm chính sách đãi ngộ đối với công an xã cần xuất phát từ việc làm rõ nội hàm thuật ngữ chính sách và chính sách đãi ngộ Thuật ngữ chính sách hiện nay được sử dụng khá phổ biết trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như ở các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau. Chính vì thế dẫn đến khái niệm về chính sách cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo tác giả Jame Anderson (1984), “Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm” [53]. Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.