mở đầu cho sự thù hận và bạo lực giữa Do Thái và các dân tộc Ả Rập triển miên, ngày càng lan rộng như một đám cháy từ Trung Đông sang nhiều khu vực khác ở châu Á. Ngoài mục tiêu biến Israel thành đồng minh chiến lược, chính quyền Mỹ thống qua viện trợ kinh tế, quân sự cho chế độ thân Mỹ của Thổ Nhĩ Kỳ, biến nước này thành căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ và là thành viên khối quân sự NATO (1951). Đồng thời Mỹ cũng ngầm giúp đỡ các thế lực phản động tiến hành đảo chính ở Iran, đưa vua Pahlevi lên thiết lập chế độ độc tài thân Mỹ ở Iran (1953), kết nạp Iran vào khối quân sự CENTO. Cùng thời gian trên, Mỹ đưa quân xâm lược Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều tiên và viện trợ cho Pháp kéo dài cuộc chiến tranh Đông Dương và phá hoại hiệp định Geneva nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam.1955 Mỹ dàn xếp cho Iraq kí hiệp ước quân Sự với Thổ Nhĩ Kỳ, Anh, Pakistan và Iran thành lập khối quân sự Baghdad làm chổ dựa cho Mỹ chống lại cách mạng Ả Rập.1955 Mỹ thành lập khối quân sự xâm lược SEATO chống lại phong trào giải phóng dân tộc Đông Nam Á.
Chính sách ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản của chính quyền Truman vấp phải ý 15 thức phản kháng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ khắp châu Á. Cách mạng Ai Cập thành công 1952, dưới sự lãnh đạo của Nasser - người theo đuổi lý tưởng chủ nghĩa dân tộc Á rập. Chính phủ Ai Cập thi hành nhiều chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và thân thiện với Liên Xô. Thực ra bản thân Nasser không phải là một người có xu hướng Cộng sản, nhưng chính sách thực dụng của Mỹ đã đẩy nhà lãnh đạo này tìm kiếm sự ủng hộ của Liên Xô về tài chính và vũ khí để chống Israel cũng như những yêu cầu cải cách kinh tế trong nước.
Chính vì vậy mà Nasser bị chao đảo trong chính sách đôi ngoại giữa Liên Xô và Mỹ. Năm 1956 chính phủ Nasser quốc hữu hoá kênh đào Suez, thách thức quyền lợi của các nước cường quốc tư bản nói chung. Để trả đũa, tháng 10.1956 Mỹ ngầm ủng hộ Anh, Pháp và Israel tấn công xâm Lược Ai Cập. Trong cuộc đối đầu này, Ai Cập nhận được sự giúp đỡ của Liên Xô kiên quyết đòi Anh, Pháp chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Suez.
Trong cuộc khủng hoảng Suez, Ai Cập nhận được sự ủng hộ của nhiều nước Á Rập để chống phương Tây và Israel. Ảnh hưởng to lớn của chủ nghĩa Nasser trong thế giới Á Rập làm Mỹ hết sức lo ngại về vai trò của Liên Xô trong khu vực. Mặc dù Ai Cập không thuộc châu Á, nhưng vị trí chiến lược của nước này và tinh thần thống nhất Á Rập của Nasser là một trong những nguyên nhân xung đột quyết liệt không chỉ giữa các cường quốc mà ngay nội bộ các nước Á Rập tại châu Á.1957, trước sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô, Tổng thống Eisenhower đưa ra thuyết "lấp chỗ trống" để quyết tâm làm thay đổi bản màu chính trị đang ngày càng đỏ lên ở châu Á. Hầu như những quốc gia có chủ quyền nào muốn theo đuổi chính sách độc lập với Mỹ đều bị các chính quyền Mỹ kết luận là "chư hầu của Liên Xô" cần phải bao vây, cấm vận và tìm cách lật đổ.1958 Mỹ đưa quân vào Lebanon và gây áp lực với Syria ngăn cản tiến trình thống nhất Syria - Ai Cập, bảo vệ chính quyền Cơ đốc giáo, đàn áp các lực lượng Palestine trên đất Lebanon.
Vấp phải sự phản đối của dư luận tiến bộ trên thế giới, quân Mỹ rút khỏi Lebanon. Gần cùng thời gian, ngày 14.1958 cách mạng Iraq thành 16 công, chế độ thân Mỹ của vua Faysal II bị sụp đổ, chính phủ cách mạng tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Iraq. Cách mạng Iraq thành công đã chấm dứt sự tồn tại của khối quân sự Baghdad và âm mưu chính trị của Mỹ, Anh trên một điạ bàn chiến lược quan trọng ở châu Á. Phong trào cách mạng ở Á Rập lên cao tạo điều kiện cho các cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân Palestine chống sự xâm lược của Israel.
Dựa vào sự trợ giúp của các quốc gia Á Rập, người Palestine tiến hành các cuộc đấu tranh chống Israel không chỉ cho riêng mình, mà còn được trao sứ mệnh là đội tiên phong của cách mạng Á rập. Tuy nhiên sự ủng hộ của các nước Á Rập thiếu sự thống nhất, việc hình thành nhiều tổ chức vũ trang chống Israel làm cho phong trào đấu tranh của Palestine bị phân tán và chia rẽ. Đầu thập kỉ 1960, trước sự phát triển và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, chiến lược "ngăn chặn" và "đẩy lùi" tỏ ra không hiệu quả trước sự phát triển của lực lượng cách mạng thế giới. Bước vào Nhà Trắng, Tổng thống Kennedy đưa ra chiến lược "phản ứng linh hoạt", nhằm tăng cường vai trò các lực lượng tay sai bản xứ chống lại phong trào giải phóng dân tộc và duy trì sự ảnh hưởng của Mỹ trên các vùng chiến lược tranh chấp với Liên Xô như Trung Đông, Nam Á và Đông Nam Á.1967 nhờ sự viện trợ tối đa của Mỹ giúp Israel chiếm được ưu thế tuyệt đối về quân sự so với các nước Á Rập, nên Israel đã giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh Trung Đông lần ba.
Israel chiếm được nhiều vùng đất của Árập: bán đảo Sinai của Ai Cập, cao nguyên Golan của Syria và bờ Tây sông Jordan. Sau đó Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ cho Israel duy trì sự chiếm đóng trái phép trên lãnh thổ Palestine-Á Rập bất chấp nghị quyết 242 của Liên Hiệp Quốc. Trong những năm 1970, cuộc đối đầu sức mạnh quân sự Xô-Mỹ trở nên cân bằng, chính quyền của Nixon chuyển từ chiến lược "phản ứng linh hoạt" sang "răn đe thực tế". Ngoại trưởng Kissinger của Mỹ thực hiện các chuyến đi con thoi tại Trung Cận Đông để tiến hành những hoạt động chính trị nhằm chia rẽ, kích động gây xung đột trong nội bộ các nước Á Rập, tiến hành đàm phán riêng lẽ, "hoà giải từng phần" giữa 17 Israel và Ai Cập.
Mặt khác Mỹ dùng thủ đoạn lôi kéo Iran và Saudi Arabia vừa nhằm phá hoại khối thống nhất Á Rập, vừa làm suy yếu mối quan hệ giữa Á Rập với Liên Xô. Năm 1975, lợi dụng những mâu thuẫn tôn giáo và dân tộc ở Lebanon, Mỹ và Israel đã kích động các mâu thuẫn để gây ra cuộc xung đột đẫm máu trong nội bộ Lebanon. Qua đó, Israel đưa quân vào miền Nam Lebanon tiêu diệt căn cứ của lực lượng kháng chiến PLO. Âm mưu của Mỹ và Israel đã làm cho cuộc đấu tranh đòi độc lập của người Palestine rơi vào tình thế hết sức khó khăn.
Trong nổi tuyệt vọng của dân tộc Palestine và sự thất bại của các nước Á Rập trong các cuộc chiến với Israel, người Hồi giáo cảm thấy bị đối xử bất công và bị làm nhục bởi người Do Thái và Phương Tây Thiên Chúa giáo. Những tổ chức Hồi giáo cực đoan xuất hiện ở Trung Đông, mục tiêu là chống phương Tây, chống Israel và các nhà nước thế tục, đòi thiết lập nhà nước Hồi giáo. Chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan từ Trung Đông lan rộng ra nhiều khu vực như: Tổ chức Jihad của Palestine thành lập (1970); Đảng Công nhân Lao động người Kurd thành lập năm (1974) chuyển cuộc đấu tranh vũ trang của người Kurd từ nông thôn ra thành thị bằng hình thức khủng bố; Nhóm Islamic của Ai Cập thành lập cuôi những năm 1970 đấu tranh đòi lật đổ chính quyền Ai Cập để thay bằng một nhà nước Hồi giáo với mục tiêu tấn công vào các lợi ích của Mỹ và bảo vệ Hồi giáo. Cùng thời kỳ này ở Nam Á cũng xuất hiện những tổ chức khủng bố như: Ở Pakistan có tổ chức Harakat Ul-Mujahidin; Ở Srilanca xuất hiện tổ chức Những con hổ giải phóng Tamil (1976) đấu tranh vũ trang và cả các hình thức khủng bố đòi thành lập nhà nước Tamil độc lập.Ở Đông Nam Á, phong trào đấu tranh đòi độc lập của người Hồi giáo Moro ở miền Nam Philippin có xu hướng chuyển sang những hình thức khủng bố.
Năm 1979 cách mạng Iran thủ tiêu chế độ độc tài thân Mỹ của vua Pahlevi, cuộc cách mạng Hồi giáo đã đưa giáo chủ Khomeini lên câm quyền, nước Cộng hoà Hồi giáo Iran thi hành chính sách bài Mỹ đến mức cực đoan.1979 lực lượng biểu tình ủng hộ cách mạng đã chiếm giữ Đại sứ quán Mỹ và bắt 52 nhân viên ngoại giao Mỹ làm con tin, đòi chính phủ Mỹ giao nộp nhà độc tài Pahlevi cho Iran. Quan hệ Mỹ-Iran bước vào thời kỳ căng thăng. 18 Năm 1979 Liên Xô đưa quân vào Afghanistan giúp lực lượng Cộng sản thiêt lập quyền lực ở Afghanistan và xây dựng một nhà nước thân Liên Xô. Việc Liên Xô đưa quân vào afghanistan làm thay đổi một cách căn bản cục diện địa chính trị ở Trung Á.
Một điều hiển nhiên là Liên Xô đang tiến gần đến các giếng dầu ở vùng Vịnh - một vùng mà Mỹ xem là liên quan đến "lợi ích sống còn" của Mỹ. Cách mạng Hồi giáo Iran thành công và việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan là sự thất bại nặng nề về chiến lược của Tổng thống Carter ở Trung Á. Đầu thập niên 1980, chiến lược toàn cầu của Mỹ đang bị khủng hoảng sâu sắc, Tổng thống Reagan bước vào Nhà Trắng phải tiến hành điều chỉnh chiến lược từ "răn đe thực tế" sang "đối đầu trực tiếp". Học thuyết Reagan chủ trương dùng biện pháp cứng rắn nhằm đối phó với Liên Xô và bất cứ lực lượng nào đe dọa quyền lợi của Mỹ.
Chính quyền Reagan phát động một cuộc chạy đua vũ trang quy mô chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ, nhằm giành ưu thế quân sự so với Liên Xô. Việc Liên Xô đưa quân vào Afghanistan giành quyền khống chế trên điạ bàn chiến lược Trung Á là nỗi đau của Mỹ. Do không thế đối đầu trực tiếp với Liên Xô, nên Washington tiến hành cuộc chiến chống lại Liên Xô thống qua bàn tay của các chiến binh Hồi giáo. Những người Hồi giáo lúc đầu chiếm được thiện cảm của người Mỹ hơn rất nhiều so với những người thế tục.
Người Mỹ quan niệm rằng, bất luận là tín đồ Hồi giáo, Do Thái giáo hay Thiên Chúa giáo trước nhất là những người có tín ngưỡng và chắc chắn đều có lợi ích chung trong việc chống lại chủ nghĩa Cộng sản vô thần.1982, Mĩ và Israel đưa quân vào miền Nam Lebanon nhằm thủ tiêu hoàn toàn phong trào kháng chiến Palestine.