CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG XUẤT KHẨU 1. Lí luận về chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược Chiến lược (strategeia)-nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, là một thuật ngữ mà ban đầu được sử dụng trong lĩnh vực quân sự, dùng để chỉ những kỹ năng và nghệ thuật sử dụng các lực lượng quân sự của các nhà chỉ huy, nhằm giành ưu thế về mình, xoay chuyển tình thế trong cuộc chiến để có thể đánh bại đối phương. Nói cách khác, thuật ngữ chiến lược thường được sử dụng để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc cái gì đối phương có thể làm, cái gì đối phương không thể làm để giành thắng lợi trước đối phương.
Với cách hiểu này, trong Từ điển Encarta đã định nghĩa khái niệm chiến lược như sau : “chiến lược là khoa học hay nghệ thuật thực hiện cuộc chiến tranh hay chiến dịch quân sự”. Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm “chiến lược” đã bắt đầu được sử dụng rộng rãi hơn ở nhiều lĩnh vực. Và với từng mục tiêu luôn có những nguồn lực nhất định. Trong lĩnh vực này, “chiến lược” được coi là kế hoạch đàm trận và phân bố lực lượng với mục tiêu chiến thắng kẻ thù.
Carl won Clausewitz (1780- 1831) – nhà binh Pháp thế kỉ 19 mô tả chiến lược là lập kế hoạch chiến tranh và hoạch địch các chiến lược tác chiến. Chiến lược cũng không chỉ là những chiến lược đơn thuần mà một tướng giỏi cần phải biết xác định chính xác nguồn lực cần thiết, quyết định lúc nào thì đánh lúc nào thì không, đồng thời duy trì tốt mối quan hệ giữa tướng và lính, giữa quân đội và nhân dân, giữa các chính trị gia và các nhà ngoại giao. Tóm lại, khái niệm chiến lược của người Hy Lạp không chỉ bao gồm việc lập kế hoạch mà còn gồm ra quyết định hay hành động. Chính khái niệm này đã tạo cơ sở cho việc mở rộng cách hiểu về thuật ngữ “chiến lược” trong các lĩnh vực đời sống kinh tế sau này.
Chiến lược đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều phạm vi và lĩnh vực khác nhau, từ quản lý quốc gia cho đến quản lý tổ chức, doanh nghiệp. Nhà sử học Edward Mead Earle (1894-1954) đã mô tả chiến lược là nghệ thuật kiểm soát và dùng nguồn lực của một quốc gia hoặc Sinh viên: Lâm Thị Lan Cát Lớp: Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 5 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Tuyết Mai một liên minh các quốc gia nhằm mục đích đảm bảo và gia tăng hiệu quả cho quyền lợi thiết yếu của mình. Những năm 1960, Alfred Chander- người đầu tiên khởi xướng lý thuyết về quản trị chiến lược đã nêu ra khái niệm của “ chiến lược” như sau: “ Chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện các chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu”( theo Chandler, A. Strategy and Structure.
Có thể thấy rằng khái niệm mà Chander đưa ra tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, đến những năm 1980, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn "Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ" (theo Quinn, J. Strategies for Change: Logical Incrementalism. Homewood, Illinois, Irwin).
Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: "Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan" (theo Johnson, G. Exploring Corporate Strategy, 5th Ed. Prentice Hall Europe) Ngoài những cách tiếp cận theo kiểu truyền thống nói trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách mới. Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển “The Cencept of Corporate Strategy”.
Theo ông, chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa. Brace Henderson, chiến lược gia, đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn Tư vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là việc đặt một Công ty vào vị thế tốt hơn đối thủ để tạo ra giá trị về kinh tế cho khách hàng. “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức.
Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”. Ông tin rằng không thể cùng tồn Sinh viên: Lâm Thị Lan Cát Lớp: Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 6 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Tuyết Mai tại hai đối thủ cạnh tranh nếu cách kinh doanh của họ giống hệt nhau. Cần phải tạo ra sự khác biệt mới có thể tồn tại. Michael Porter cũng tán đồng nhận định của Henderson: “Chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt.
Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo”. Đến nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về chiến lược. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát chiến lược của một tổ chức là kế hoạch quy mô lớn, xác định các mục tiêu tổng thể và các giải pháp cơ bản, định hướng dài hạn cho hoạt động của tổ chức. Chiến lược phải mang lại cho tổ chức lợi thế cạnh tranh so với đối thủ, giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu của mình đồng thời thể hiện sự hiểu biết của tổ chức về những yếu tố cạnh tranh và hợp tác chính, là căn cứ cho việc ra các quyết định quản lý trong tổ chức.
Khái niệm về chiến lược kinh doanh Khi hình thành nền kinh tế thị trường cũng là lúc hình thành nên các doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng là một tổ chức, vì vậy chiến lược cho doanh nghiệp là một vấn đề vô cùng thiết yếu. Đối với một doanh nghiệp thường sẽ có ba cấp chiến lược cơ bản theo thứ tự : Chiến lược phát triển( Cấp doanh nghiệp), Chiến lược kinh doanh ( Cấp đơn vị kinh doanh chiến lược), Chiến lược chức năng ( Cấp chức năng) Cấp Chiến lược Doan phát triển h nghiệ p Cấp đơn Chiến lược vị kinh kinh doanh doanh Cấp chức năng Chiến lược chức năng Hình 1: Các cấp chiến lược của một doanh nghiệp Sinh viên: Lâm Thị Lan Cát Lớp: Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 7 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Tuyết Mai Như vậy, nếu như chiến lược phát triển (chiến lược cấp doanh nghiệp) là một phần trong chiến lược của tổ chức/doanh nghiệp bao gồm nhiều hoạt động kinh doanh và tìm các giải pháp cho các vấn đề chiến lược vĩ mô mà công ty đang đối mặt như: Công ty nên tham gia vào hoạt động kinh doanh nào? Các mục tiêu và kết quả mong đợi từ các hoạt động kinh doanh là gì? Phân bổ các nguồn lực như thế nào để đạt được mục tiêu đề ra?. thì chiến lược kinh doanh sẽ tập trung vào việc quản lý lợi ích và hoạt động của một lĩnh vực kinh doanh cụ thể bằng việc xác định : Đơn vị kinh doanh chiến lược sẽ cung cấp sản phẩm/dịch vụ gì? Khách hàng mục tiêu của họ là ai? Lợi thế cạnh tranh như thế nào?.Và Chiến lược chức năng là phần chiến lược thực hiện nhằm hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh.
Hay có thể hiểu chiến lược kinh doanh là quá trình xác định các mục tiêu tổng thể phát triển doanh nghiệp và sử dụng tổng hợp các yếu tố kỹ thuật, tổ chức, kinh tế và kinh doanh để chiến thắng trong cạnh tranh qua đó đạt được mục tiêu đề ra. Đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh Dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, dù là ở lĩnh vực kinh doanh nào thì các chiến lược kinh doanh nào cũng đều mang những đặc trưng cơ bản: Chiến lược kinh doanh thường xác định rõ những mục tiêu cơ bản, phương hướng kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kì và được thống nhất trong tất cả các hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp một cách bền vững và liên tục. Chiến lược thì chỉ có nhà quản lý cấp cao mới có đủ khả năng và tầm nhìn cần thiết để hiểu được những ảnh hưởng rộng lớn của quyết định chiến lược và có đủ thẩm quyền phân bố nguồn lực cần thiết Chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến triển vọng của doanh nghiệp vì khi doanh nghiệp đã cam kết thực hiện một chiến lược, nguồn lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó phải được tận dụng triệt để, gắn với chiến lược đã vạch ra. Tùy vào đặc thù từng ngành để xác định thời hạn của chiến lược kinh doanh, song chiến lược thì là kế hoạch kế hoạch dài hạn (ít nhất từ 3-5 năm) và tác động của chiến lược với doanh nghiệp còn kéo dài hơn nhiều.
Sinh viên: Lâm Thị Lan Cát Lớp: Kế hoạch 55A Chuyên đề thực tập 8 GVHD: PGS.TS Vũ Thị Tuyết Mai Các vấn đề chiến lược thường được định hướng tương lai vì được xây dựng dựa trên những dự đoán của các nhà quản lý hơn là những gì họ biết. Điều quan trọng là các dự báo càng chặt chẽ và chuẩn xác bao nhiêu thì doanh nghiệp sẽ càng tìm được những lựa chọn chiến lược tốt bấy nhiêu. Một doanh nghiệp chỉ thành công khi có vị thế chủ động (tiên liệu trước) đối với sự thay đổi của môi trường. Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh đóng một vai trò rất quan trọng trong việc định hướng con đường phát triển cho doanh nghiệp, bất kì một tổ chức nào cũng cần có riêng cho mình một chiến lược kinh doanh.
Một chiến lược kinh doanh tốt được thực hiện hiệu quả sẽ giúp các nhà quản lý và nhân viên mọi cấp xác định được mục tiêu và nhận biết được phương hướng hành động. Từ đó góp phần vào sự thành công cả doanh nghiệp. Trái lại một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ nếu không có chiến lược thì không khác nào con thuyền ra khơi mà không có người lái. Chiến lược kinh doanh làm rõ phương hướng hành động : Chiến lược kinh doanh sẽ tập trung vào phướng hướng dành động nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, làm rõ và cụ thể hóa mục tiêu.