Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược. Chương 2: Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và chiến lược của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê Gia Lai. Chương 3: Xây dựng chiến lược công ty và lựa chọn chiến lược của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê Gia Lai. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Trong thời gian qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, hội thảo, các bài viết về xây dựng chiến lược cho vùng, doanh nghiệp ở nhiễu lĩnh vực khác nhau, nhưng đề tài nghiên cứu về xây dựng chiến lược cho các doanh nghiệp cà phê còn rất hạn chế, có số ít công trình nghiên cứu về chiến lược cà phê, đó là: Đề tài khoa học: “Chiến lược kinh doanh của Tập đoàn cà phê Trung Nguyên” của Thạc sỹ Đỗ Văn Tính, đề cập đến vị trí, sứ mệnh và tầm nhìn hình dung về bức tranh tương lai của doanh nghiệp cà phê Trung Nguyên.
Hiệp hội cà phê-ca cao Việt Nam (Vicofa), “Đề án phát triển cà phê Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, đề cập đến các giải pháp phát triển cà phê và định hướng trong những năm tới đối với ngành cà phê Việt Nam. Ngoài ra, hiện nay chưa có một doanh nghiệp, hay tổ chức nào của Việt Nam nghiên cứu về xây dựng chiến lược cho các công ty cà phê trong nước một cách khoa học, để có thể cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu rất nhiều tài liệu, sách, báo và những bài viết về quản trị chiến lược, văn hóa doanh nghiệp, các tạp chí kinh tế đề cập về chiến lược,. Kết hợp với thực tiễn bản thân có nhiều năm công tác ở các ngành, lĩnh vực khác nhau có liên quan đến đề tài xây dựng chiến lược công ty.
Những vấn đề mang tính chất định hướng được nêu trong đề tài này, tác giả đã tham khảo chiến lược phát triển của ngành, những nhận định của các chuyên gia về xu hướng phát triển của ngành, của địa Luan van 5 phương,… tất cả các vấn đề có liên quan đến công tác xây dựng chiến lược của doanh nghiệp. Đồng thời trên cơ sở lý luận khoa học kết hợp với thực tiễn, đề tài đã xây dựng được chiến lược phù hợp trong giai đoạn phát triển 2011 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Đến nay, rất ít doanh nghiệp kinh doanh cà phê hiểu biết, có cái nhìn về tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược lâu dài. Điều này lại ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững, tương lai của doanh nghiệp.
Do đó, đề tài nghiên cứu: “Xây dựng chiến lược tại Công ty TNHH một thành viên cà phê Gia Lai” là đề tài hoàn toàn mới, chưa có một công trình chuyên sâu, hệ thống. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC 1. TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƢỢC Trong bối cảnh hội nhập, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề xây dựng chiến lược. Trong thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về chiến lược, do đó việc xây dựng chiến lược cũng khác nhau.
Vì vậy, làm rõ khái niệm chiến lược là hết sức cần thiết. Khái niệm chiến lƣợc Khái niệm “chiến lược” có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu sa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội. Sau đó, nó phát triển thành “Nghệ thuật của tướng lĩnh”- nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tướng lĩnh.
Đến khoảng năm 330 trước công nguyên, tức là thời Alexander Đại đế chiến lược dùng để chỉ kỹ năng quản trị khai thác các lực lượng nhằm đè bẹp đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Trong lịch sử loài người, rất nhiều các nhà lý luận quân sự như Tôn Tử, Alexander, Clausewitz, Napoleon, Stonewall Jackson, Douglas MacArthur đã đề cập và viết về chiến lược trên nhiều góc độ khác nhau. Luận điểm cơ bản của chiến lược là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình [6, tr. Có nhiều định nghĩa chiến lược, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả.
Theo Alfred Chandler (ĐH Harvard): “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một Luan van 7 chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” [12]. Chandler là người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược. Cho đến những năm 1980 khi mà môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muồi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ” [6, tr. Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” [6, tr.Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” [13].
Có thể thấy rằng, các định nghĩa phân chia thành nhiều ý, điều đó chứng tỏ rằng để có một định nghĩa chính xác về chiến lược sẽ không dễ dàng. Do đó, phải có các định nghĩa đa diện để giúp hiểu rõ hơn về chiến lược. Mintzberg tóm lược định nghĩa đa diện trong định nghĩa với 5 chữ P. Theo định nghĩa chiến lược với 5 chữ P của mình Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược như sau [6, tr.10]: Kế hoạch (Plan): Chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán.
Khuôn mẫu (Partern): Sự kiên định hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định. Bố trí (Position): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. Triển vọng (Perspective): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. Thủ đoạn (Ploy): Cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ.
Luan van 8 Định nghĩa chiến lược khác nhau tùy theo cấp độ, bản chất, quan điểm. Việc định nghĩa chính xác chiến lược theo cấp độ về bản chất tùy thuộc quan điểm. Tối thiểu có ba mức chiến lược cần được nhận diện: Chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và các chiến lược chức năng. Chiến lược cấp công ty hướng tới mục đích và phạm vi tổng thể của tổ chức.
Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể. Chiến lược chức năng là các chiến lược giúp cho các chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện các nguồn lực, các quá trình, con người và các kỹ năng cần thiết. Như vậy từ những nghiên cứu nêu trên, theo tôi chiến lược là quá trình đề ra các mục tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp, phù hợp với tầm nhìn và sứ mệnh của tổ chức, nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài và bên trong, trên cơ sở đó phân bổ các nguồn lực của tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra. Xây dựng chiến lược là quá trình xác định nhiệm vụ và mục tiêu, nhằm phát hiện điểm mạnh, điểm yếu bên trong, cơ hội, thách thức từ bên ngoài để lựa chọn một chiến lược tối ưu thay thế.
Chiến lược đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, cụ thể: - Giúp nhà quản trị phát hiện các cơ hội, lường trước và né tránh những bất trắc trong tương lai, vạch ra các hành động một cách hữu hiệu, nhận thức rõ các hiện tượng không chắc chắn và những rủi ro trong quá trình hoạt động của tổ chức. - Đảm bảo cho tổ chức có thể hoạt động một cách hiệu quả trong môi trường luôn thay đổi. Luan van 9 - Góp phần cải thiện lợi thế cạnh tranh của tổ chức nhờ vào việc cập nhật và đổi mới, duy trì sự ổn định, cải thiện hiệu quả các hoạt động của tổ chức. - Là kim chỉ nam cho sự tập hợp và thống nhất tất cả các lực lượng và nguồn lực trong doanh nghiệp.
- Chiến lược kinh doanh giúp các nhà quản trị phối hợp các chức năng trong tổ chức một cách tốt nhất trên cơ sở đạt đến mục tiêu chung của tổ chức. - Cuối cùng, chiến lược đảm bảo sự phát triển liên tục có hệ thống trên cơ sở kế thừa và kết hợp giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Tóm lại, xây dựng chiến lược giúp cho doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi. Chiến lược định hướng cho sự tập hợp, khai thác năng lực cốt lõi, lợi thế cạnh tranh và thống nhất các nguồn lực giúp doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đề ra.
Hệ thống chiến lƣợc trong doanh nghiệp a. Các cấp chiến lược Chiến lược được quản lý ở nhiều cấp khác nhau trong một doanh nghiệp, thông thường được chia thành 3 cấp chiến lược cơ bản. - Chiến lược chức năng Lợi thế cạnh tranh bắt nguồn từ năng lực của công ty nhằm đạt được sự vượt trội về hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và trách nhiệm với khách hàng. Với các chiến lược cấp chức năng, chúng ta chú ý xem xét vai trò và cách thức mà các chiến lược này hướng đến hoàn thiện hiệu suất của các hoạt động trong phạm vi công ty như: marketing, quản trị vật liệu, phát triển sản xuất và dịch vụ khách hàng [6, tr.
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh Chủ đề cạnh tranh mà công ty lựa chọn để nhấn mạnh, cách thức mà nó tự định vị vào thị trường để đạt được lợi thế cạnh tranh và các chiến lược định vị khác nhau có thể sử dụng trong bối cảnh khác nhau của mỗi ngành. Chúng Luan van 10 ta sẽ xem xét lợi hại của ba loại chiến lược chính ở cấp các đơn vị kinh doanh, đó là chiến lược dẫn đạo về chi phí; chiến lược tạo sự khác biệt và chiến lược tập trung vào các khe hở thị trường [6, tr.