CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH LOGISTICS 1.1 Những lý luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) FDI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “ Foreign Direct Investment” và được dịch sang tiếng việt là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có rất nhiều khái niệm về FDI như sau: Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF(1997): “Đầu tư nước ngoài là một hoạt động đầu tư thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.” Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCED): Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: - Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư. -Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đó. -Tham gia vào một doanh nghiệp mới.
-Cấp tín dụng dài hạn ( >5 năm). -Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. SV: Nguyễn Như Ngọc Lớp CQ54/08.02 Luận văn tốt nghiệp 6 Học viện Tài chính Theo Luật đầu tư năm 2014 mà Quốc hội khóa XIII đã thông qua ta có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm giành quyền điều hành và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Một là, FDI mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ, nhưng nó ít bị lệ thuộc hơn vào quan hệ chính trị giữa các bên nếu so sánh với các hình thức vốn nước ngoài khác như ODA, tín dụng quan hệ thương mại.
Hai là, FDI thiết lập quyền sở hữu về tư bản của công ty một nước ở một nước khác. Ba là, FDI kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lí các nguồn vốn đã được đầu tư. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về kinh tế, chính trị, không để lại gánh nợ nần cho nền kinh tế. Bốn là, Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà những hình thức đầu tư khác không có được.
Năm là, FDI liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia và sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế, thương mại quốc tế. Tóm lại, mục đích cuối cùng của FDI là lợi nhuận, là khả năng sinh lời cao hơn khi sử dụng đồng vốn ở nước bản địa. Bản chất của FDI là mục đích kinh tế được đặt lên hàng đầu. Thông qua FDI, các chủ đầu tư tránh được thuế và những bất lợi các nước áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu.
Với ưu thế về kỹ SV: Nguyễn Như Ngọc Lớp CQ54/08.02 Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện Tài chính năng quản lí đặc biệt, khả năng tài chính cũng như lợi thế về quy mô, các nhà đầu tư hoàn toàn có khả năng thu lợi nhuận, duy trì kiểm soát, cũng như dành các lợi ích phục vụ cho mục đích của họ. Việc thâm nhập vào các thị trường đa dạng cũng giúp họ phát triển lợi nhuận hoặc san sẻ rủi ro giữa các thị trường.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam năm 2014 luật số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc Hội khóa XIII, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam gồm có 4 hình thức sau: 1.1 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của NĐTNN, có thể là tư nhân hoặc tổ chức nước ngoài, do NĐTNN thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự chủ trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Tài sản của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thuộc về cá nhân, tổ chức nước ngoài nên họ có quyền quyết định bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp.2 Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh doanh quốc tế do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước chủ nhà và Chính phủ nước ngoài, hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp nước chủ nhà, do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.3 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Đây là hình thức mà một bên là chủ đầu tư nước ngoài và một bên là chủ đầu tư trong nước kí kết văn bản để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân SV: Nguyễn Như Ngọc Lớp CQ54/08.02 Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện Tài chính phối kết quả hoạt động kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không hình thành pháp nhân mới nào.4 Hình thức hợp đồng PPP Khái niệm: Đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) là hình thức đầu tư được ký kết trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.
Như vậy, hợp đồng PPP là thoả thuận hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cung cấp các dịch vụ công, theo đó một phần hoặc toàn bộ công việc sẽ được chuyển giao cho khu vực tư nhân thực hiện với sự hỗ trợ của Nhà nước. Các hình thức hợp đồng PPP: Theo quy định tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP thì có 7 loại hợp đồng dự án theo hình thức đối tác công tư, cụ thể như sau: - Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (hợp đồng BOT) - Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (hợp đồng BTO) - Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (hợp đồng BT) - Hợp đồng Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh (hợp đồng BOO) - Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Thuê dịch vụ (hợp đồng BTL) - Hợp đồng Xây dựng – Thuê dịch vụ – Chuyển giao (hợp đồng BLT) - Hợp đồng Kinh doanh – Quản lý (hợp đồng O&M) 1.4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.1 Đối với nước đầu tư a. Tác động tích cực Một là, tận dụng lợi thế so sánh để thu lợi nhuận cao. Sự không đồng đều về trình độ phát triển giữa các nước trên thế giới đã tạo nên sự chênh lệch về điều kiện và giá cả yếu tố đầu vào của sản xuất.Do đó đầu tư nước ngoài cho SV: Nguyễn Như Ngọc Lớp CQ54/08.02 Luận văn tốt nghiệp 9 Học viện Tài chính phép sử dụng lợi thế nơi tiếp nhận vốn để giảm chi phí sản xuất nhờ đó mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư, tăng tỷ suất lợi nhuận.
Hai là, mở rộng thị trường. Đa số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ hoạt động với tư cách là chi nhánh của các công ty mẹ. Đây là một biện pháp hữu hiệu giúp nhà đầu tư thâm nhập thị trường một nước, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch mà đặc biệt là thị trường các nước đang phát triển Ba là, tìm kiếm được nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu ổn định. Hiện nay, các nước đang phát triển đều nỗ lực bảo vệ tài nguyên của mình, ngăn chặn xuất khẩu nguyên liệu thô.
Vậy thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là biện pháp hữu hiệu nhất của các công ty để có được nguyên liệu thô với giá rẻ nhất lại tiết kiệm được chi phí vận chuyển và nhiều thứ thuế khác. Bốn là, chuyển giao công nghệ hợp lý, thay đổi cơ cấu sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhịp độ phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi phương thức sản xuất, cơ cấu sản phẩm phải không ngừng đổi mới.Giải pháp hữu hiệu nhất là chuyển những máy móc, công nghệ này sang các nước kém phát triển hơn bởi vì đối với họ công nghệ này vẫn còn rất mới. Năm là, khuyến khích xuất khẩu của nước đi đầu tư.
Cùng với việc đem vốn đi đầu tư sản xuất ở các nước khác và nhập khẩu sản phẩm đó về nước với một số lượng lớn sẽ làm cho đồng nội tệ tăng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ có xu hướng giảm dần. Sự giảm tỷ giá hối đoái này sẽ có tác dụng khuyến khích các nhà sản xuất trong nước tăng cường xuất khẩu, nhờ đó tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Ngoài những lợi ích kinh tế, FDI còn đem lại những ưu thế nhất định về mặt chính trị.
Các dự án FDI càng có hiệu quả thì khả năng can thiệp vào nội bộ của nước nhận đầu tư càng rõ nét. Vì vậy, nhiều nước trên thế giới hiện nay thường dùng FDI như một công cụ để nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế. SV: Nguyễn Như Ngọc Lớp CQ54/08.02 Luận văn tốt nghiệp 10 Học viện Tài chính b. Tác động tiêu cực Thứ nhất, nếu chính phủ các nước đi đầu tư đưa ra các chính sách không phù hợp sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu tư ở trong nước.
Khi đó các doanh nghiệp sẽ lao mạnh ra nước ngoài đầu tư để thu lợi, do đó nền kinh tế các quốc gia chủ nhà có xu hướng bị suy thoái, tụt hậu.