phần mở đầu, kết luận nội dung luận văn gồm 4 chương: 4 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút đầu tư vốn trực tiếp nước ngoài Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Lào Cai giai đoạn 2010 – 2019 Chƣơng 4: Một số giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Lào Cai 4 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ VỐN TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI (FDI) 1. Cơ sở lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một bộ phận của nền kinh tế quốc tế.
Nghiên cứu về FDI đã trở thành đề tài mà không ít các học giả, tổ chức nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu. Do đó cho đến nay, có nhiều nhìn nhận khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, sau đây là một số định nghĩa về FDI được đưa ra ởi một số tổ chức lớn như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1997): “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư.
Mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự của doanh nghiệp.” Theo Tổ chức thương mại quốc tế (WTO): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.” Theo Giáo trình Kinh tế quốc tế - Học viện Chính sách và Phát triển, PGS. Đào Văn Hùng và TS. Bùi Thúy Vân đồng chủ iên (năm 2015): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được hiểu là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài tự mình hoặc kết hợp với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn bằng tiền hoặc tài sản vào một đối tượng nhất định, dưới một hình thức đầu tư nhất định. Họ tự mình hoặc cùng chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như kết quả kinh doanh căn cứ vào tỷ lệ nắm giữ quyền kiểm soát và sở hữu vốn.” Theo Luật Đầu tư 2014 quy định “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Theo khái niệm trên, Luật Đầu 2014 cũng đã phân rõ chế 5 độ áp dụng riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đây chính là hành lang pháp lí quan trọng, thể hiện được sự quan tâm với các cấp chính quyền đối với các nhà đầu tư cũng như sẽ đánh giá được đúng mức ưu đãi phù hợp giành cho các đối tượng khi hoạt động tại Việt Nam. Như vậy, có thể hiểu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào nước tiếp nhận đầu tư và trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình”.
Đặc điểm của FDI Từ khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động tìm kiếm lợi nhuận bằng con đường kinh doanh của chủ đầu tư nước ngoài. Vì vậy, ngoài những đặc điểm của đầu tư nói chung, có thể khái quát những đặc điểm đặc trưng của FDI như sau: Đặc điểm về vốn góp FDI là một loại hình đầu tư quốc tế trong đó người sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Về bản chất, FDI là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư ỏ vốn để xây dựng hoặc mua phần lớn, thậm chí là toàn bộ cơ sở kinh doanh ở nước ngoài nhằm sở hữu toàn bộ hay một phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Đồng thời, họ cũng chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả kinh doanh của dự án đầu tư.
Tỷ lệ góp vốn đầu tư sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài của từng quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với quá trình hội nhập quốc tế, chính sách về FDI của mỗi nước nhận đầu tư thể hiện chính sách mở cửa nền kinh tế. Quá trình tự do hóa tài khoản vốn luân chuyển giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, nước tiếp nhận đầu tư thể hiện quan điểm mở cửa và hội nhập quốc tế đầu tư. Đặc điểm về hình thức đầu tư FDI thường được thực hiện thông qua nhiều hình thức tùy theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài hoặc Luật đầu tư tại nước sở tại và điều kiện cụ thể của từng 6 lĩnh vực để thành lập các khu vực đầu tư nước ngoài mà các nước lựa chọn cho phù hợp.
Một nước có thể đồng thời là nước đi đầu tư cũng có thể là nước nhận vốn đầu tư nước ngoài. FDI được thực hiện thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới ở nước ngoài, mua lại từng phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất chuyển nhượng doanh nghiệp. Điều này cho thấy tính đa dạng của các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đặc điểm về thời hạn dự án đầu tư Các dự án FDI là dự án mang tính lâu dài do việc thu lại số vốn an đầu của một dự án FDI không dễ dàng như hình thức đầu tư gián tiếp.
FDI là loại hình đầu tư trực tiếp và dài hạn, do đó nguồn vốn này tương đối ổn định, bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư của nhiều quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển. FDI không phải là nguồn vốn vay và ít chịu sự chi phối, ràng buộc bởi các mối quan hệ chính trị giữa nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Đặc điểm về chủ sở hữu vốn Chủ sở hữu của vốn đầu tư là người nước ngoài, tiến hành hoạt động đầu tư ở nước ngoài, nghĩa là, doanh nghiệp tiếp nhận vốn FDI không thuộc quốc gia của chủ đầu tư. FDI gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư.
Đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán… là các yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu vào cho các chủ đầu tư nước ngoài. FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó. FDI chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia (TNCs) thực hiện Các công ty xuyên quốc gia là những tập đoàn lớn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ, nhãn hiệu, sản phẩm có uy tín và danh tiếng trên toàn cầu. Các công ty xuyên quốc gia (TNC) tiếp tục khẳng định vai trò là chủ thể đầu tư FDI chính trên thế giới.
Các TNC ngày càng phát triển do hoạt động của các công ty này trải rộng trên nhiều quốc gia. Tính 7 trung bình, các TNC có chi nhánh trên 40 quốc gia. Các công ty xuyên quốc gia khi đầu tư thường kéo theo các công ty con, những nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho chính hãng. TNC không chỉ có khả năng giúp hiện đại hoá một số ngành kinh tế mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho quốc gia được đầu tư, đồng thời cũng có nhiều đóng góp cho xã hội.
Đặc điểm về mục đích đầu tư Hoạt động FDI vì mục đích lợi nhuận tìm kiếm được ở nước tiếp nhận đầu tư nên vốn đầu tư được tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận cho chủ đầu tư, thỏa mãn mục đích tối đa hóa lợi nhuận của họ. Nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào nước nhận đầu tư với mục đích chủ đạo là tìm kiếm lợi nhuận. Chính vì vậy, các nước tiếp nhận đầu tư phải xây dựng chính sách cũng như pháp luật đủ mạnh để hướng FDI phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nước mình chứ không phải là chỉ tìm kiếm lợi nhuận cho nhà đầu tư nước ngoài. FDI là do các chủ đầu tư quyết định đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình nên hình thức này thường mang lại tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao.
FDI gắn liền với việc di chuyển các yếu tố đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia FDI đóng vai trò quan trọng đối với chuyển giao công nghệ, được thực hiện bằng chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và nghiên cứu ứng dụng, cải tiến và phát triển công nghệ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận đầu tư. Các yếu tố đầu tư có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, kinh nghiệm kinh doanh…) hay các tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, giấy ghi nợ…). Các doanh nghiệp FDI tạo ra mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước. Các hình thức FDI Căn cứ theo mục đích đầu tư, các kênh đầu tư và các kênh đầu tư có thể chia FDI ra các hình thức tương ứng.