phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về khu du lịch Bãi Sau, thành phố Vũng Tàu Chƣơng 2: Thực hành “đeo bám” khách của nhóm ngƣời bán hàng rong tại khu du lịch Bãi Sau, thành phố Vũng Tàu. Chƣơng 3: “Đeo bám khách” – chiến lƣợc sinh tồn và những vấn đề đặt ra. 1111 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH BÃI SAU, THÀNH PHỐ VŨNG TÀU 1. Cơ sở lý luận: thực hành văn hoá hàng ngày và chiến lược của “kẻ yếu” Hoạt động bán hàng rong với thực hành “đeo bám” khách đƣợc lựa chọn nhƣ cách thức để bán hàng hàng ngày của một bộ phận ngƣời bán hàng ở Bãi Sau, Vũng Tàu.
Nhƣ vậy nghiên cứu những hành vi diễn ra hàng ngày xung quanh đời sống của một bộ phận dân cƣ chính là nghiên cứu những thực hành văn hóa hàng ngày của họ và những thực hành trong các hành vi hàng ngày thể hiện một góc nhìn vănhóa. Trong định nghĩa của mình về văn hóa, E. B Tylor (1871) đã khẳng định văn hóa nhƣ “một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được”. Trong định nghĩa này Tylor chỉ ra rằng văn hóa là những “phức thể” mà những “phức thể” ấy do chính con ngƣời tạo ra, tuy vậy nó vẫn là những thực thể mang tính trừu tƣợng nhƣ “tri thức”, “tín ngƣỡng”, “nghệ thuật”… ở tầm vĩ mô nhƣng chung quy đó cũng là những sản phẩm do chính con ngƣời tạora.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc tới trong tác phẩm của mình năm 1940: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh 1995: 431). Với nhận định ấy, chủ tịch Hồ 1212 12 Chí Minh có nhắc đến “phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó”, qua khái niệm này, văn hóa dƣờng nhƣ đƣợc thu gọn hơn, ít nhiều phản ánh những yếu tố mang tính chất gần gũi với cuộc sống đời thƣờng hơn.
Từ góc nhìn nhân học, Gary Ferraro thì cho rằng: “Văn hóa là tất cả những gì con ngƣời có, con ngƣời nghĩ và con ngƣời làm với tƣ cách là những thành viên của một xã hội” (Gary Ferraro, 1995:17). Đây đƣợc coi là khái niệm rộng và đầy đủ nhất về văn hóa bởi nó bao trùm tất cả những hành vi, những biểu hiện hay những suy nghĩ của con ngƣời, trong đó ta thấy cả những yếu tố mang tính “cao trào” và có cả những yếu tố mang tính “đời thƣờng”, nó trƣớc hết và sau cùng đều gắn với cuộc sống hàng ngày của con ngƣời. Theo tác giả Phạm Quỳnh Phƣơng (2014), văn hóa thƣờng ngày, trƣớc hết, là cách con ngƣời sống cuộc sống hàng ngày của họ, mà cách sống ấy phản ánh cách họ nghĩ, nhận thức và cảm nhận, dựa trên những bối cảnh khác nhau. “Nhƣ vậy văn hóa thƣờng ngày không phải là văn hóa nhìn dƣới góc độ nghệ thuật hay giá trị theo qui ƣớc, mà nó bao trùm lên mọi khía cạnh trong sinh hoạt đời thƣờng của cuộc sống con ngƣời.
Từ những đặc trƣng của đời sống thƣờng ngày, văn hóa của đời sống thƣờng ngày biểu hiện một số tính chất: Lối sống (lifestyle); Là sản phẩm của những bối cảnh lịch sử học thuật và xã hội nhất định; Bị qui định bởi những mối quan hệ quyền lực và những dạng thức phản kháng; Đặc tính lặp lại, theo chu kỳ, quen thuộc và cảm xúc tự nhiên, mặc dù cũng bị đứt đoạn (bởi những sự bất ngờ); (Martin, 2003, dẫn theo Phạm Quỳnh Phƣơng,2014). Trong tác phẩm Phác thảo một lý thuyết thực hành (Outline of a Theory ofPractice),Pierre Bourdieu đã giải thích hành vi của con ngƣời, đặc biệt là nhấn mạnh tầm quan trọng của các hành động thực tiễn và sự tồn tại trong việc hiểu cá nhân con ngƣời. Từ góc nhìn này, hành động “đeo bám” khách nhƣ một hành vi đƣợc hình thành do tác động của nhiều yếu tố nhƣ giáo dục, văn hóa, xã hội, quan trọng nhất là do sự tác động của kinh tế thị trƣờng và sự mất cân bằng 1313 13 trong quan hệ quyền lực. Những hành vi, biểu hiện của họ xét dƣới góc cạnh văn hóa là sự phản ánh về đời sống xã hội, là bức tranh mô phỏng những mâu thuẫn thực tế ở một góc nhỏ của cuộc sống hiện thời, tuy vậy nó lại là sự thể hiện sâu rộng đến toàn xã hội với góc nhìn đa chiều.
Trong tác phẩm Thực hành của đời sống thƣờng ngày (The Practice of Everyday Life), Michel de Certeur (1984) cho rằng đời sống thƣờng ngày không chỉ là các yếu tố mang quy luật tự nhiên mà còn bị chi phối bởi yếu tố quyền lực và chính trị. Theo Michel de Certeau, thực hành hàng ngày bao hàm cả chiến lược và chiến thuật. Chiến lược đƣợc sử dụng bởi các cấu trúc quyền lực có tổ chức, ví dụ nhƣ nhà nƣớc, công ty, hợp tác, một viện nghiên cứu, hay thậm chí một nhà khoa học, trong khi đó chiến thuật đƣợc sử dụng bởi những ngƣời bình thƣờng, bị thống trị. Nói cách khác, "chiến thuật" là phƣơng sách của những ngƣời không có quyền lực, là "nghệ thuật của kẻ yếu".
Điều này thể hiện ở những ví dụ trong xã hội hậu công nghiệp, ngƣời dân trong các xã hội hiện đại đã thực thi "chiến thuật" riêng của mình để "xoáy trộm" những gì có thể nhằm phục vụ cho cá nhân, ví dụ nhƣ công nhân viên chức sử dụng các nguồn lực văn phòng của cơ quan (điện thoại, máy photo, giấy.) để sử dụng cho mục đích riêng, hay ngƣời đi thuê nhà trang trí căn hộ cho thuê nhằm phủ tính cá nhân của mình lên không gian đi mƣợn (Farmer 2003, dẫn theo Phạm Quỳnh Phƣơng, 2014). Mặc dù đó là những ví dụ cho thấy sự nhỏ nhặt và tầm thƣờng, nhƣng đó là những chiến thuật nhất thời, mƣu mẹo, thủ đoạn thông minh mà con ngƣời sử dụng để phản kháng, là những chiến thắng nhỏ hàng ngày của kẻ "yếu" đối với kẻ"mạnh". Tƣơng tự, trong tác phẩm Các dạng thức phản kháng hàng ngày (Everyday Forms of Resistance), khi nói về những chiến thắng nhỏ của kẻ yếu đối với kẻ mạnh, James Scott (1985) đã dùng những thuật ngữ nhƣ “vũ khí của kẻ yếu” (Weapons of the Weak) và “nghệ thuật của sự phản kháng” (Arts of Resistance) để chỉ ra rằng những ngƣời yếu thế trong xã hội cũng có những “vũ khí” nhất định của họ. Các thuật ngữ về “sự thống trị”, “quyền lực”, “phản 1414 14 kháng” hay “vũ khí của kẻ yếu”… đã đƣợc James Scott phác họa thông qua hình ảnh những ngƣời nông dân trong tác phẩm của ông.
Trong nghiên cứu về những tác động của Internet đối với thanh niên, tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Châm (2013) đã vận dụng lý thuyết này của James Scott về sự phản kháng của những ngƣời yếu thế để nói về thứ “vũ khí” mà giới trẻ sử dụng thông qua không gian Internet để sống thật với suy nghĩ của họ: “Trong các công trình quan trọng của mình, James Scott đã bàn luận một số lí thuyết liên quan tới quyền lực (power), sự thống trị (domination) và phản kháng (resistance). Ông đã cung cấp một bối cảnh rộng cho việc xem xét quá trình mà những nhóm ít có quyền lực về kinh tế xã hội cũng nhƣ văn hóa đã phản kháng lại quá trình thống trị đối với việc khai thác lao động nhƣ thế nào” (James Scott 1985, dẫn theo Nguyễn Thị Phƣơng Châm, 2013). Luận điểm của James Scott có thể sử dụng để minh chứng đƣợc cho hành động “đeo bám” khách của những ngƣời bán hàng rong tại Bãi Sau, Vũng Tàu cũng chính là những hành động phản kháng hàng ngày đối với những tồn tại thực tế của xã hội, trong đó yếu tố quyền lực thể hiện rất rõ, những ngƣời bán hàng rong không có quyền lực về kinh tế, không có quyền lực về chính trị, văn hóa, để bán đƣợc hàng họ phải lựa chọn hình thức đeo bám, rong ruổi theo chân khách để mƣu sinh. Đó chính là cách thức phản kháng họ chọn lựa trong chính đời sống hàng ngày của họ.
Luận điểm của James Scott cũng phần nào giúp lý giải hành động của những con ngƣời trong cuộc chiến đấu tranh sinh tồn, ở đó thứ “quyền lực” tối cao không thuộc về những “kẻ yếu”. Sinh tồn đƣợc coi là bản năng sẵn có của loài ngƣời, nó đƣợc coi nhƣ hiện tƣợng bẩm sinh của con ngƣời khi sinh ra, muốn tồn tại với cuộc sống đầy những thử thách, bắt buộc con ngƣời ta phải có chiến lƣợc, phải tìm ra cách thuận lợi nhất để tồn tại. Trong bất cứ một thời đại nào, một xã hội nào hay bất cứ một thời điểm nào kể từ khi con ngƣời sinh ra đến khi mất đi thì bản năng sinh tồn luôn luôn sẵn có để con ngƣời ứng phó với hoàn cảnh, giống nhƣ đói 1515 15 phải tìm cách để ăn, rét phải tìm áo ấm để mặc, ngủ không an toàn phải tìm cách để trú ngụ an toàn hơn, hiểu đúng ra thì con ngƣời luôn tìm cách để tồn tại càng lâu càng tốt, và muốn tồn tại phải có cách thức cụ thể, có phƣơng thức thựchiện. Trong Thuyết sinh tồn của tác giả Nguyễn Ngọc Huy (1924 – 1990) có nêu: “Bản năng sinh tồn là một bẩm tính thiên nhiên hỗn hợp với cơ thể ngƣời; nó phát hiện khi ngƣời mới sanh và chỉ tiêu diệt khi ngƣời chết.
Do đó, nó chi phối hết cả đời sống của ngƣời, từ khi ngƣời cất tiếng oa oa để chào đời cho đến lúc ngƣời nhắm mắt xuôi tay, giã từ trần thế”. Tác giả Nguyễn Ngọc Huy cũng khẳng định: “Vì bản năng sinh tồn mà ngƣời có một ý chí sinh tồn vô cùng mãnh liệt. Ý chí sinh tồn xuất hiện một cách rõ rệt trong tất cả những hoạt động của con ngƣời. Những hoạt động này sở dĩ phức tạp là vì ngƣời là một sinh vật cao đẳng có nhiều năng khiếu sinh lý và tâm lý, thành ra có nhiều nhu cầu và khuynh hƣớng khác nhau”.