CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những khái niệm cơ bản về chiến lược sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm và vai trò của sản xuất kinh doanh Theo nghĩa rộng, kinh doanh là thuật ngữ để chỉ tất cả những tổ chức và hoạt động sản xuất ra hàng hoá hay dịch vụ cần thiết để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của con người. Con người ở những nước khác nhau có địa vị khác nhau, sở thích khác nhau, … Tuy nhiên ai cũng cần ăn, mặc, vui chơi, giải trí, đi lại, … Những nhu cầu này ở từng nơi, từng lúc đòi hỏi chất lượng khác nhau.
Quá trình kinh doanh đóng vai trò rất lớn, kinh doanh là một trong những nguyên nhân thúc đẩy cuộc sống phát triển. Theo Luật doanh nghiệp 2005, kinh doanh được định nghĩa là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Như vậy, theo nghĩa hẹp kinh doanh gắn với các hoạt động của các doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời, bản thân hoạt động kinh doanh lại là một hệ thống bao gồm các ngành kinh doanh; mỗi ngành kinh doanh lại là một hệ thống gồm nhiều công ty có qui mô khác nhau; các công ty lại là một phân hệ gồm nhiều bộ phận khác nhau như sản xuất, kế hoạch, marketing, tài chính, … Trong phạm vi toàn nền kinh tế, các doanh nghiệp có liên hệ chặt chẽ với các tổ chức xã hội. Mọi hoạt động của các doanh nghiệp đều có ảnh hưởng đến hệ thống xã hội lớn hơn: Hệ thống chính trị, hệ thống pháp luật, hệ thống kinh tế, … 4 Ngày nay, kinh doanh mang tính hòa đồng toàn thế giới.
Việc con người sử dụng hàng hóa được chế tạo từ nhiều nước khác nhau đã trở thành bình thường. Vai trò của đồng tiền ngày càng quan trọng, là phương tiện trao đổi, nó làm cho hoạt động kinh doanh ngày càng linh hoạt hơn, nhất là đồng tiền chuyển đổi được.2 Khái niệm chiến lược sản xuất kinh doanh: 1.1 Các quan điểm tiếp cận chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ rất lâu, trước đây thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong quân sự. Ngày nay, thuật ngữ này đã được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực: kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế ở cả phạm vi vĩ mô và vi mô.
Ổ phạm vi vĩ mô chúng ta có thể có các khái niệm như: “chiến lược phát triển ngành”, “chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”, ở phạm vi vi mô thuật ngữ chiến lược cũng có sự kết hợp với các khái niệm, phạm trù quản lý doanh nghiệp hình thành các thuật ngữ “chiến lược marketing”, “chiến lược sản xuất”, “chiến lược kinh doanh”,. Sự xuất hiện khái niệm chiến lược kinh doanh không chỉ đơn thuần là vay mượn khái niệm mà bắt nguồn từ sự cần thiết phản ánh thực tiễn khách quan của quản lý doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Sau đây là một số cách tiếp cận chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.2 Quan điểm cổ điển Quan điểm này xuất hiện từ trước những năm 1960, theo quan điểm này thì doanh nghiệp có thể kế hoạch hóa, tối ưu hóa tất cả các yếu tố đầu vào để từ đó tạo ra được lợi thế cạnh tranh dài hạn nhằm đạt được mục tiêu hiệu 5 quả và tối ưu hóa lợi nhuận. Vì vậy, trong thời kỳ này các doanh nghiệp sử dụng nhiều hàm sản xuất và máy tính nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
Thực tế, đến năm 1970 cách tiếp cận này mất ý nghĩa, vì đã không đề cập đến môi trường bên ngoài của doanh nghiệp và toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp đều do Kế toán trưởng và Giám đốc chỉ đạo. Mặt khác, lúc này đã hình thành các khu vực như Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Tây Âu, Đông Âu,. chi phối lên toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp. Lúc đó xuất hiện sự cạnh tranh giữa các khu vực, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tiếng nói chung phối hợp lẫn nhau và phải tính đến các yếu tố của cạnh tranh.3 Quan điểm tiến hoá Quan điểm này coi “Doanh nghiệp là một cơ thể sống và nó chịu tác động của môi trường bên ngoài, đồng thời cơ thể sống tự điều chỉnh chính mình để thích nghi với môi trường kinh doanh”.
Như vậy, quan điểm này không thừa nhận doanh nghiệp như là một hộp đen, mà trái lại doanh nghiệp như là một hệ thống mở chịu tác động của môi trường bên ngoài, “Doanh nghiệp không thể ngồi bên trong bốn bức tường mà phải mở cửa sổ để quan sát bầu trời đầy sao”, nhằm tìm kiếm cơ hội kinh doanh và phát hiện nguy cơ có thể đe dọa doanh nghiệp.4 Quan điểm theo quá trình Theo quan điểm này doanh nghiệp muốn thành công trên thị trường thì cần phải có một quá trình hoạt động kinh doanh lâu dài. Và trong những quảng thời gian đó doanh nghiệp tích luỹ dần kinh nghiệm hoạt động của mình để từ đó nâng lên thành mưu kế trong kinh doanh. Theo tính toán của Trường Đại học Havard Mỹ thì: Doanh nghiệp phải mất từ một đến ba năm mới bước vào thị trường, từ ba đến năm năm mới giữ vững trên thị trường và lớn hơn tám năm mới thành công. Do đó doanh 6 nghiệp phải có kế hoạch dài hạn, phải xây dựng chiến lược phát triển lâu dài trong thị trường cho mình.5 Quan điểm hệ thống Quan điểm này cho rằng các doanh nghiệp kinh doanh chính là mỗi phần tử của hệ thống kinh tế.
Trong hệ thống kinh tế đó thì các doanh nghiệp có quan hệ với nhau, bị chi phối chặt chẽ với nhau và chịu tác động bởi môi trường của nó (môi trường của hệ thống kinh tế bao gồm tập hợp các phần tử, các phân hệ như: môi trường chính trị, luật pháp, văn hoá xã hội, …) hoặc hệ thống kinh tế tác động lên môi trường của nó. Do đó mỗi doanh nghiệp (phần tử) khi tổ chức hoạt động kinh doanh thì không chỉ xem xét đến bản thân doanh nghiệp mà phải chú ý tới cả sự ảnh hưởng của các phần tử khác trong cùng hệ thống (môi trường ngành) cũng như ngoài hệ thống. Và người ta gọi đó là môi trường bên ngoài của doanh nghiệp. Vì vậy, việc phân tích môi trường của doanh nghiệp là một vấn đề cần thiết.
Tóm lại, cho dù các quan điểm trên có tiếp cận phạm trù chiến lược dưới góc độ nào, thì chúng cũng nhằm một mục đích chung của mình là tăng trưởng nhanh, bền vững và tối ưu hoá lợi nhuận trong môi trường ngày càng biến động và cạnh tranh gay gắt. Các khái niệm chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 1. Các khái niệm “Chiến lược” là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “strategos” dùng trong quân sự, nhà lý luận quân sự thời cận đại Clawzevit cũng cho rằng: chiến lược quân sự là nghệ thuật chỉ huy ở vị trí ưu thế. Một xuất bản của từ điển Larous coi: chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng.
7 Học giả Đào Duy Anh, trong từ điển tiếng Việt đã viết: chiến lược là các kế hoạch đặt ra để giành chiến thắng trên một hay nhiều mặt trận. Như vậy trong lĩnh vực quân sự, thuật ngữ chiến lược nói chung đã được coi như một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi của một cuộc chiến tranh. Từ thập kỷ 60, thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” ra đời. Quan niệm về chiến lược kinh doanh được phát triển dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau.
Năm 1962, Chandler định nghĩa chiến lược như là “Việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành dộng cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” (Chandler, A. Strategy and Structure. Đến những năm 1980, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, vào chuỗi hành động vào một tổng thể được cấu kết một cách chặt chẽ” (Quinn, J. Strategies for Change: Logical Incrementalism.
Homewood, Illinois, Irwin). Sau đó Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” (Johnson, G, Scholes, K. Exploring Corporate Strategy, 5th Ed. Prentice Hall Europe).
Ngoài cách tiếp cận kiểu truyền thống như trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách mới: Chiến lược kinh doanh là kế hoạch 8 kiểm soát và sử dụng nguồn lực, tài sản và tài chính nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển “The concept of Corporate Strategy”. Theo ông, chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa. Bruce Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn tư vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh.
Lợi thế cạnh tranh là đặt một công ty vào vị thế tốt hơn đối thủ để tạo ra giá trị về kinh tế cho khách hàng. “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng trong một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”. Ông tin rằng không thể cùng tồn tại hai đối thủ cạnh tranh nếu cách kinh doanh của họ giống hệt nhau.
Cần phải tạo ra sự khác biệt mới có thể tồn tại. Michael Porter cũng tán đồng nhận định của Henderson: “Chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo”. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác.