Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Khái niệm về chiến lược và quản trị chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh là một danh từ khó định nghĩa, sau đây là một số khái niệm được các nhà quản trị gia hiểu theo nhiều cách khác nhau: Theo Charles W.Hill và Gareth R.Jones: “Chiến lược kinh doanh là một tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ các nguồn tài nguyên cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó”. Theo Fred David: “Chiến lược kinh doanh là những phương tiện để đạt đến mục tiêu dài hạn”.
Glueck: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”. Qua tiếp cận các khái niệm trên, dù được diễn đạt như thế nào thì khái niệm chiến lược kinh doanh vẫn bao hàm những nội dung sau: • Xác định các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn của tổ chức. • Đưa ra các chương trình hành động tổng quát để đạt được mục tiêu. • Lựa chọn các phương án hành động, triển khai và phân bổ các nguồn tài nguyên để thực hiện mục tiêu.
Phân loại chiến lược kinh doanh Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta phân chiến lược thành những loại khác nhau: * Căn cứ vào phạm vi chiến lược, chiến lược kinh doanh được chia làm 2 loại: (1) Chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát: Chiến lược này đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa lâu dài và quyết định đến sự sống còn của tổ chức. Hai chiến lược này liên kết với nhau tạo thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh. Không thể coi là một chiến lược kinh doanh, nếu chỉ có chiến lược chung mà không có chiến lược bộ phận được thể hiện bằng các mục tiêu và mỗi mục tiêu lại được thể hiện bằng một số tiêu chí nhất định. * Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược thì chiến lược kinh doanh được chia thành bốn loại như sau: (1) Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt: Tư tưởng chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược ở đây là, không dàn trải các nguồn lực, trái lại cần tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Thí dụ, đối với ngành công nghiệp dầu khí thì tìm nguồn nguyên liệu là một trong những nhân tố then chốt; đối với ngành chế tạo máy bay thì đó là thiết kế; đối với ngành điện tử là công nghệ sản xu ất; đối với ngành sản xuất bia, thuốc lá là mạng lưới phân phối. (2) Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối: Tư tưởng chỉ đạo hoạch định chiến lược ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh. Thông qua sự phân tích đó, tìm ra điểm mạnh của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh. Thí dụ, trong số các loại sản phẩm thì doanh nghiệp có ưu thế hơn các doanh nghiệp khác sản phẩm nào hoặc trong mỗi loại sản phẩm thì chi tiết nào.
Ưu thế tương đối có thể biểu hiện bằng nhiều mặt như: chất lượng hoặc giá bán sản phẩm, dịch vụ; hoặc công nghệ sản xuất, mạng lưới tiêu thụ. (3) Chiến lược sáng tạo tấn công: Trong lo ại chiến lược này, việc xây dựng được tiếp cận theo cách cơ bản là luôn nhìn thẳng vào những vấn đề được coi là phổ biến, khó làm khác được để đặt ra câu hỏi “tại sao”, nhằm xét lại những điều tưởng như đã kết luận. Từ việc đặt liên tiếp các câu hỏi và nghi ngờ sự bất biến của vấn đề, có thể có được những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình. Thí dụ, một kỹ sư thấy trên thị trường đang bán loại chăn sợi bằng điện nhưng có ghi dòng chữ: “không được quận tròn và nằm trên chăn”.
Anh ta rất ngạc nhiên và đặt ra câu hỏ i “tại sao”. Kết quả là anh ta đ ã sản xuất ra được 13 loại chăn không cần có dòng ghi chép nọ. Thực chất đây là việc tìm cách thay đổi luật chơi, đảo lộn hiện trạng, khai phá con đường mới để giành ưu thế (4) Chiến lược khai thác các mức độ tự do: Cách xây dựng chiến lược ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm vào khai thác khả năng có thể có của các nhân tố bao quanh nhân tố then chốt. Khái niệm quản trị chiến lược Theo Fred R.David, quản trị chiến lược được định nghĩa như là mộ t nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra.
Trong định ngh ĩa này, quản trị chiến lược tập trung vào việc hợp nhất các hoạt động quản trị, tiếp thị, tài chính - kế toán, sản xuất, nghiên cứu phát triển và các hệ thống thông tin trong lĩnh vực kinh doanh để đạt được thành công của tổ chức. Vai trò của quản trị chiến lược đối với việc phát triển doanh nghiệp Quá trình quản trị chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. Việc nhận thức được kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà lãnh đạo cũng như nhân viên nắm vững được việc gì cần làm để đạt được thành công. Điều kiện môi trường mà các tổ chức gặp phải luôn biến đổi nhanh và thường tạo ra những bất ngờ, quản trị chiến lược giúp nhà quản trị thấy rõ được môi trường trong tương lai, từ đó có thể nắm bắt tốt hơn và tận dụng tốt các cơ hợi, đồng thời có thể tránh hoặc giảm bớt các nguy cơ.
Quản trị chiến lược giúp các nhà quản trị sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và phân bổ chúng một cách hợp lý. Giúp công ty gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan. Ngoài ra, quản trị chiến lược còn mang lại sự hài hòa nhu cầu của tổ chức, thông qua đó, lôi kéo các nhà quản trị các cấp và tạo ra sự cộng hưởng để đạt tới mục tiêu chung của công ty. Th ực tế các công trình nghiên cứu cho thấy, những công ty vận dụng quản trị chiến lược thường đạt được kết quả tốt hơn nhiều so với kết quả mà 14 họ đã đạt được trước đó và so với kết quả của các công ty không vận dụng quản trị chiến lược.
Quy trình quản trị chiến lược Quy trình quản trị chiến lược là một quá trình thường xuyên và liên tục đòi hỏi có sự tham gia của mọi thành viên trong tổ chức. David, quy trình quản trị chiến lược gồm 3 giai đoạn: hình thành chiến lược, thực thi chiến lược và đánh giá chiến lược. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn này chủ yếu tập trung vào việc hoạch định các chiến lược. Quy trình này được khái quát thông qua Hình 1.1 như sau: Hình 1.1: Mô hình quản trị chiến lược của Robert E.
Hoskisson - Nguồn: [20] Hoạch định chiến lược: Ho ạch định chiến lược là quá trình đề ra các công việc cần thực hiện của công ty, tổ chức những nghiên cứu để ch ỉ rõ những nhân tố chính của môi trường bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, xây dựng mục tiêu dài hạn, lựa chọn trong số những chiến lược thay thế. Đôi khi giai đoạn hoạch định chiến lược của quản trị chiến lược còn được gọi là “lập kế hoạch chiến lược”. Sự khác biệt giữa quản trị chiến lược và lập kế hoạch chiến lược chính là quản trị chiến lược bao gồm cả thêm thực thi chiến lược và đánh giá chiến lược. Các hoạt động nghiên cứu bao gồm cả việc thu thập thông tin về lĩnh vực và 15 thị trường hiện tại của công ty.
Quá trình này còn gọi một tên gọi là “kiểm soát môi trường”. Về phía doanh nghiệp, các nghiên cứu được tổ chức để chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu chính trong các lĩnh vực chức năng của công ty. Có rất nhiều cách để xác định các nhân tố bên trong doanh nghiệp như tính các chỉ tiêu đánh giá mức độ trung bình trong ngành. Nhiều hình thức tiến hành điều tra được phát triển và vận dụng để đánh giá về các nhân tố bên trong như tinh thần làm của người lao động, hiệu quả của quá trình sản xuất, tính hiệu quả của hoạt động quảng cáo và mức độ trung thành của khách hàng.
Trong quá trình hoạch định chiến lược, việc định ra m ột cách rõ rang nhiệm vụ của doanh nghiệp được sự quan tâm chú ý của không chỉ các nhà hoạch định cấp cao mà còn là sự quan tâm của những người thực hiện. Một mục tiêu rõ ràng là rất có ích cho việc đề ra những mục tiêu cũng như hoạch định chiến lược. Giai đoạn hoạch định chiến lược được tiến hành qua các bước công việc sau: Bước 1 - Chức năng nhiệm vụ: Ch ỉ ra vai trò, bản chất và nội dung cơ bản của doanh nghiệp. Bước 2 – Đánh giá môi trường bên ngoài: Chỉ ra vai trò, bản chất của việc đánh giá môi trường bên ngoài, nội dung và các công cụ đánh giá.
Bước 3 – Đánh giá môi trường nội bộ: Ch ỉ ra bản chất của đánh giá nội bộ, công tác đánh giá các mặt hoạt động của công ty. Bước 4 – Sử dụng các mô hình, kết hợp đánh giá định tính và định lượng, chọn ra một mô hình chiến lược hợp lý cho công ty. Phân tích môi trường kinh doanh Phân tích môi trường kinh doanh là quá trình mà các nhà chiến lược tiến hành kiểm tra, xem xét các nhân tố môi trường khác nhau (môi trường kinh tế, môi trường văn hóa – xã hội, môi trường công nghệ …) và xác định các cơ hội hoặc các đe dọa đối với doanh nghiệp của họ. Từ các phân tích môi trường đưa ra các ý kiến quyết định phán đoán môi trường nhằm tận dụng một cơ hội hoặc để làm chủ được mối đe dọa một cách có hiệu quả.
Phạm vi và nội dung phân tích môi trường bao gồm: phân tích môi trường vĩ 16 mô và phân tích môi trường vi mô hay còn gọi là môi trường ngành. Môi trường vĩ mô Ảnh hưởng kinh tế Là những yếu tố nằm ngoài doanh nghiệp, chúng không chỉ định hướng và có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động quản trị, mà còn ảnh hưởng tới môi trường vi mô của doanh nghiệp.