CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm về chiến lược Chiến lược là một lĩnh vực rất đa dạng. “Chiến lược” là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp – “Strategos” được sử dụng trong lĩnh vực quân sự. Chiến lược là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận. Có thể nói, chiến lược quân sự là nghệ thuật chỉ huy ở vị trí ưu thế.
Sau này, thuật ngữ chiến lược được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, “chiến lược” được ứng dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dần phát triển theo thời gian. Năm 1962, Alfred Chandler định nghĩa: “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”. Năm 1978, Theo McKinsey: “Chiến lược là một tập hợp của các chuỗi hoạt động được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh bền vững.” Đến những năm 1980, Quinn đã đưa ra khái niệm: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cô kết một cách chặt chẽ”.
Ngoài cách tiếp cận khái niệm chiến lược theo kiểu truyền thống trên, nhiều tổ chức kinh doanh còn tiếp cận theo hướng hiện đại. Theo Kenneth Andrews: “Chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh, điểm yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa.” Micheal Porter cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh”. Còn đối với Philip Kotler – “cha đẻ” của marketing hiện đại thì cho rằng: “Chiến lược là chất keo kết dính nhằm vào việc tạo lập và đưa ra một lời xác nhận về giá trị nhất quán và rõ rệt đến thị trường mục tiêu của doanh nghiệp.” Luận văn thạc sỹ QTKD 1 Lê Thùy Dung Đại học Bách khoa Hà nội GVHD: PGS – TS Nguyễn Minh Duệ Vậy chiến lược kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh thể hiện một tầm nhìn dài hạn, là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh.
Chiến lược kinh doanh giúp cho nhà quản trị kết hợp các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp một cách tối ưu nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra.2 Khái niệm về quản trị chiến lược Theo Alfred Chandler: “Quản trị chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bố tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Theo Fred David: “Quản trị chiến lược có thể định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đã đề ra”. Cho dù được định nghĩa như thế nào đi nữa thì chúng cũng có chung một số đặc điểm nhất định. Quản trị chiến lược là nghệ thuật và khoa học của việc xây dựng, thực hiện và đánh giá các quyết định tổng hợp giúp cho mỗi tổ chức có thể đạt được mục tiêu của nó.
Như vậy quản trị chiến lược là sự phối kết hợp giữa các mặt quản lý, marketing, kế toán tài chính, tác nghiệp, nghiên cứu và phát triển, các hệ thống thông tin để đạt tới sự thành công của tổ chức.3 Quy trình quản trị chiến lược Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh. Bằng việc xây dựng chiến lược đúng đắn, doanh nghiệp có thể tập trung thời gian và nguồn lực vào lĩnh vực kinh doanh chủ đạo để thực sự tạo nên sức mạnh cạnh tranh. Quy trình quản trị chiến lược là một quy trình gồm các bước: Lập kế hoạch chiến lược, triển khai và đánh giá chiến lược. Luận văn thạc sỹ QTKD 2 Lê Thùy Dung Đại học Bách khoa Hà nội GVHD: PGS – TS Nguyễn Minh Duệ Hình 1.1: Mô hình quy trình Quản trị chiến lược - Xác định mục tiêu của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có nhiều mục tiêu khác nhau như: mục tiêu tài chính (doanh số bán hàng, lợi nhuận hoặc chi phí đạt được mục tiêu…); mong muốn đáp ứng yêu cầu và mong đợi của khách hàng một cách tốt nhất; chất lượng sản phẩm. Các mục tiêu góp phần vào việc đạt được lợi thế cạnh tranh. Sau khi đặt ra mục tiêu tổ chức có các nhiệm vụ cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu đã đặt ra. - Để xây dựng chiến lược tổ chức phải biết mình là ai, vị trí của mình trên thị trường là chỗ nào.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp để xác định cơ hội và đe dọa, điểm mạnh và điểm yếu. - Đưa ra các phương án để đạt được mục tiêu chính là việc tiến hành xây dựng chiến lược. Chiến lược doanh nghiệp không chỉ xác định những gì doanh nghiệp muốn thực hiện, mà còn là cách thức thực hiện những mục tiêu đó. Là một loạt các hành động và quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau và lựa chọn phương pháp phối hợp những hành động và quyết định đó.
Chiến lược của doanh nghiệp phải khai thác được những điểm mạnh cơ bản của mình (các nguồn lực và năng lực) và phải tính đến những cơ hội, thách thức của môi trường từ đó đề ra các phương án giúp doanh nghiệp có thể đạt được mục tiêu. - Lựa chọn chiến lược, triển khai và phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đã đề ra. Có rất nhiều chiến lược được đặt ra để giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu. Trong số đó cần phải lựa chọn chiến lược có tính khả thi nhất trong điều kiện nguồn lực hiện có của doanh nghiệp.
Tùy theo mức độ ưu tiên, nguồn lực cần phải được phân bổ một cách hợp lý để có thể tạo ra sự khác biệt nhằm đáp ứng mọi Luận văn thạc sỹ QTKD 3 Lê Thùy Dung Đại học Bách khoa Hà nội GVHD: PGS – TS Nguyễn Minh Duệ hoạt động mà doanh nghiệp cần cải tiến, nâng cao. Cần phải đánh giá chính xác thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sau đó triển khai phương án đã lựa chọn và phải thực hiện một cách kiên trì, liên tục. - Sau khi thực hiện chiến lược cần phải kiểm tra kết quả đạt được đồng thời phải thường xuyên rà soát và điều chỉnh để phù hợp với những biến đổi của môi trường. Xây dựng chiến lược là việc phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động.
Việc xây dựng chiến lược là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quản trị doanh nghiệp. Một chiến lược tốt phải có khả năng tổ chức và thực hiện tốt mới đem lại thành công cho doanh nghiệp.2 Vai trò của chiến lược sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng tới mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh với đối thủ, từ đó quyết định sự thành bại của tổ chức. Một chiến lược kinh doanh tốt phải là chiến lược giúp cho doanh nghiệp chiếm được lợi thế so với đối thủ cạnh tranh và doanh nghiệp đạt được mức lợi nhuận trên tổng số vốn đầu tư bỏ ra là cao nhất có thể.
Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh luôn biến động. Xây dựng chiến lược giúp cho các nhà quản trị phân tích môi trường và đưa ra những dự báo để doanh nghiệp thích nghi được với sự biến động đó. Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có các biện pháp chủ động đối phó với nguy cơ và mối đe dọa từ môi trường kinh doanh. Chiến lược kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững.
Luận văn thạc sỹ QTKD 4 Lê Thùy Dung Đại học Bách khoa Hà nội GVHD: PGS – TS Nguyễn Minh Duệ Nếu không có chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không định hướng được những hoạt động trong dài hạn. Nói cách khác, chiến lược kinh doanh là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp, là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa xây dựng cho mình được một chiến lược theo đúng nghĩa mà mới chỉ dừng lại ở giai đoạn kế hoạch hóa. Chiến lược kinh doanh được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng, tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh.
Quản trị chiến lược đòi hỏi phải có thời gian dài vì một chiến lược thường được xây dựng với thời gian là 3 năm, 5 năm hoặc dài hơn. Chính vì vậy cần thiết phải có sự điều chỉnh nếu các yếu tố ảnh hưởng có sự thay đổi. Nhưng trên thực tế nhiều nhà quản trị không dám thay đổi vì coi kế hoạch chiến lược là cứng nhắc, sợ đi chệch mục tiêu.3 Các loại chiến lược theo cấp độ quản lý (Phân loại chiến lược) - Chiến lược cấp doanh nghiệp Đây là chiến lược chung hay chiến lược tổng thể. Chiến lược cấp công ty xây dựng ngành kinh doanh hoặc các ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ thực hiện trong tương lai.
Chiến lược cấp công ty xác định mục tiêu và quyết định việc phân bổ nguồn lực bằng việc tạo ra chính sách và các kế hoạch. - Chiến lược cấp kinh doanh Cấp này còn được gọi là SBU – đơn vị kinh doanh chiến lược. Chiến lược cấp cơ sở xác định những căn cứ để có thể hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của mình để đóng góp cho việc hoàn thành chiến lược chung của công ty. Chiến lược cấp kinh doanh chủ yếu là các chiến lược cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp tìm được một vị trí trong ngành.
- Chiến lược cấp chức năng Đây là nơi tập trung hỗ trợ cho chiến lược công ty và chiến lược cấp cơ sở kinh doanh. Cấp này xây dựng các chiến lược cụ thể theo từng chức năng và lĩnh vực quản trị.