CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG SẢN XUẤT LEAN (TINH GỌN). Định nghĩa hệ thống sản xuất Lean Trong những năm của thập niên 1950, Eiji Toyoda đã nghiên cứu rất kỹ hệ thống sản xuất của Ford, khi đó Ford là Công ty đại diện tiêu biểu cho ngành kỹ thuật sản xuất tốt nhất trên thế giới {Dennis, 2007, Tr. Ông kết luận rằng, hệ thống sản xuất của Ford không thích hợp với nước Nhật do hệ thống sản xuất Ford được biết đến như là hệ thống sản xuất có kích thước lô hàng với nhiều sản phẩm giống nhau hay kích thước lớn (mass production). Để xây dựng hệ thống sản xuất Toyota, Eiji Toyoda và Taiichi Ohno đã tạo ra một mô hình sản xuất Lean – hệ thống sản xuất tinh gọn.
Sự giới hạn về vốn đã thôi thúc họ phát triển những máy móc có tính linh hoạt, có kích thước nhỏ gọn và dễ dàng chuyển đổi trong sản xuất. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ đối với người lao động làm việc lâu dài cho một Công ty đã tạo nên hình ảnh Công ty như là cộng đồng sống đã giúp cho người lao động đóng góp nhiệt tình và tham gia trong việc giải quyết những khó khăn cho Công ty {Dennis, 2007, Tr.11} Hệ thống sản xuất Lean là một hệ thống các công cụ và phương pháp nhằm liên tục loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sản xuất. Lợi ích chính của hệ thống sản xuất này là giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng và rút ngắn thời gian sản xuất. Một cách hiểu khác về hệ thống Lean đó là việc nhắm đến mục tiêu: với cùng một mức sản lượng đầu ra nhưng có lượng đầu vào thấp hơn, ít thời gian hơn, ít mặt bằng hơn, ít nhân công hơn, ít máy móc hơn, ít vật liệu hơn và ít chi phí hơn.
Trước đây, lợi nhuân của doanh nghiệp được hiểu theo công thức: Công thức cũ: Chi phí + lợi nhuận = giá Theo công thức này, hệ thống sản xuất thông thường đặt giá bán mục tiêu trên cơ sở giá thị trường, sau mới xem xét lợi nhuận có thể đạt được khi triển khai một sản phẩm mới. -1- Ngược lại, hệ thống sản xuất Lean do Toyota xây dựng, xem xét hàng loạt khía cạnh mà khách hàng sẵn sàng trả, sau đó sẽ dùng các công cụ Lean để tính xem sẽ tiết kiệm chi phí là bao nhiêu (Womack và Jones, 1996, Tr. Do vậy ta có công thức mới: Giá(cố định) – Chi phí = Lợi nhuận Vậy, lợi nhuận đạt được do ảnh hưởng trực tiếp của việc giảm chi phí (Xem hình 1. Lîi nhuËn Gi¸ cè ®Þnh Chi phÝ H×nh 1.1: Môc tiªu lµ gi¶m chi phÝ (Nguån: Pascal Dennis, 2007, tr.
Mục tiêu của sản xuất Lean Lean Manufacturing, còn gọi là Lean Production, là một hệ thống các công cụ và phương pháp nhằm cải tiến liên tục loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sản xuất. Lợi ích chính của hệ thống này là giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, và rút ngắn thời gian sản xuất. Cụ thể hơn, các mục tiêu bao gồm: 1.1 Gia tăng công việc tạo ra giá trị và loại bỏ lãng phí Trong bất kỳ một nhà máy nào cũng tồn tại hai loại công việc gồm những công việc mang lại giá trị cho sản phẩm đây là lực lượng lao động quan trọng nhất trong một tổ chức và những công việc hỗ trợ để mang lại giá trị cho sản phẩm (Allen, Robinson và Stewart, 2001, tr. Trong nhà máy, hoạt động sản xuất được chia thành ba nhóm sau đây: (i) Các hoạt động tạo ra giá trị tăng thêm (Value-added activities) là hoạt động chuyển hóa vật tư trở thành đúng sản phẩm mà khách hàng yêu cầu.
(ii) Các hoạt động cần thiết nhưng không tạo ra giá trị tăng thêm (Necessary non value-added activities) là hoạt động không tạo ra giá trị tăng thêm từ quan điểm của -2- khách hàng nhưng lại cần thiết trong việc sản xuất ra sản phẩm nếu không có sự thay đổi đáng kể nào từ quy trình cung cấp hay sản xuất trong hiện tại (Mekong Capital, 2001, tr. (iii) Các hoạt động không tạo ra giá trị tăng thêm (Non value-added activities) là các hoạt động không cần thiết cho việc chuyển hóa vật tư thành sản phẩm mà khác hàng yêu cầu có thể được định nghĩa là lãng phí. Vì vậy, có thể hiểu lãng phí là bất cứ gì làm hao tốn về thời gian, vật liệu hoặc nhà xưởng mà không làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ cho khách hàng (The productivity Press Development Team, 1998, tr. Doanh nghiệp nào cũng tồn tại những lãng phí trong tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Do đó, bước đầu tiên là nhận thức về những gì làm tăng thêm và những gì không làm tăng thêm giá trị từ góc độ khách hàng. Bất kỳ vật liệu, quy trình hay tính năng nào không tạo thêm giá trị theo quan điểm của khách hàng đước xem là thừa và nên loại bỏ (Mekong Capital, 2004, tr. Để tìm và loại bỏ mọi yếu tố lãng phí trong sản xuất, Toyota đưa ra khái niệm về các loại lãng phí có mặt trong hệ thống sản xuất. Các lãng phí đó bao gồm 7 loại lãng phí cơ bản.
Tuy nhiên, danh sách này đã được điều chỉnh và mở rộng bởi những người thực hành Lean manufacturing, nhìn chung bao gồm các mục sau: Sản xuất dư thừa (Over-Production): Sản xuất dư thừa tức là sản xuất nhiều hơn hay sớm hơn những gì được yêu cầu từ khách hàng một cách không cần thiết Khuyết tật (Defects): Bên cạnh các khuyết tật về mặt vật lý trực tiếp, khuyết tật cũng bao gồm các sai sót về giấy tờ, cung cấp thông tin sai lệch về sản phẩm, giao hàng trễ, sản xuất sai quy cách, sử dụng quá nhiều nguyên vật liệu hay tạo ra phế liệu không cần thiết. Hàng sửa (Correction): Sửa sai hay gia công lại, khi một việc phải được làm lại bởi vì nó không được làm đúng trong lần đầu tiên. Quá trình này không chỉ gây nên việc sử dụng lao động và thiết bị kém hiệu quả mà còn làm gián đoạn sản xuất, dẫn đến những ách tắc và trong quy trình. -3- Tồn kho (Inventory): Lãng phí về tồn kho nghĩa là dự trữ quá mức cần thiết về nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm.
Lượng tồn kho phụ trội dẫn đến chi phí tài chính cao hơn về tồn kho, chi phí bảo quản cao hơn và tỷ lệ khuyết tật cao hơn. Di chuyển (Transportation): Việc Di chuyển ở đây nói đến bất kỳ sự chuyển động giữa các công đoạn xử lý làm kéo dài thời gian chu kỳ sản xuất, dẫn đến việc sử dụng lao động và mặt bằng kém hiệu quả và có thể gây nên những đình trệ trong sản xuất. Chờ đợi (Waiting): Chờ đợi là thời gian công nhân hay máy móc nhàn rỗi bởi sự tắc nghẽn hay luồng sản xuất trong xưởng thiếu hiệu quả. Thời gian trì hoãn giữa mỗi đợt gia công chế biến sản phẩm cũng được tính đến.
Việc chờ đợi làm tăng thêm chi phí đáng kể do chi phí nhân công và khấu hao trên từng đơn vị sản lượng bị tăng lên. Thao tác (Motion): Bất kỳ các chuyển động tay chân, máy móc hay việc đi lại không cần thiết của công nhân trong việc gia công sản phẩm. (Vd: Việc đi lại khắp xưởng để tìm dụng cụ làm việc, các chuyển động cơ thể không cần thiết hay bất tiện do quy trình thao tác được thiết kế kém làm chậm tốc độ làm việc của công nhân. Gia công thừa (Over-processing): Gia công thừa tức tiến hành nhiều công việc gia công hơn mức khách hàng yêu cầu dưới hình thức chất lượng hay công năng của sản phẩm (Vd: Đánh bóng hay làm láng thật kỹ những điểm trên sản phẩm mà khách hàng không yêu cầu và không quan tâm).
Kiến thức rời rạc (Knowledge Disconnection): Đây là trường hợp khi thông tin và kiến thức không có sẵn tại nơi hay vào lúc được cần đến. Ở đây cũng bao gồm thông tin về các thủ tục quy trình, thông số kỹ thuật và cách thức giải quyết vấn đề, v. Thiếu những thông tin chính xác thường gây ra phế phẩm và tắc nghẽn luồng sản xuất.2 Giảm thời gian chu kỳ sản xuất -4- Giảm thời gian quy trình và chu kỳ sản xuất bằng cách giảm thiểu thời gian chờ đợi giữa các công đoạn, cũng như thời gian chuẩn bị cho quy trình và thời gian chuyển đổi mẫu mã hay quy cách sản phẩm.3 Giảm thiểu mức hàng tồn kho Giảm thiểu mức hàng tồn kho ở tất cả công đoạn sản xuất, nhất là sản phẩm dở dang giữa các công đoạn. Mức dự trữ/tồn kho thấp hơn đồng nghĩa với yêu cầu vốn lưu động ít hơn.4 Cải thiện năng suất lao động và tăng sản lượng Cải thiện năng suất lao động, bằng cách vừa giảm thời gian nhàn rỗi của công nhân, đồng thời phải đảm bảo công nhân đạt năng suất cao nhất trong thời gian làm việc (không thực hiện những công việc hay thao tác không cần thiết).
Nếu có thể giảm chu kỳ sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thiểu ùn tắc và thời gian dừng máy, Công ty có thể gia tăng sản lượng một cách đáng kể từ cơ sở vật chất hiện có. Hầu hết các lợi ích trên đều dẫn đến việc giảm giá thành sản xuất (Ví dụ: Việc sử dụng thiết bị, mặt bằng hiệu quả hơn dẫn đến chi phí khấu hao trên đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn, sử dụng lao động hiệu quả hơn sẽ dẫn đến chi phí nhân công cho mỗi đơn vị sản phẩm thấp hơn).5 Tận dụng thiết bị và mặt bằng Sử dụng thiết bị và mặt bằng sản xuất hiệu quả hơn bằng cách loại bỏ các trường hợp ùn tắc và gia tăng tối đa hiệu suất sản xuất trên các thiết bị hiện có, đồng thời giảm thiểu thời gian dừng máy.6 Tăng tính linh động Có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau một cách linh động hơn với chi phí và thời gian chuyển đổi thấp nhất (Mekong Capital, 2004, tr. So sánh lợi ích của hệ thống sản xuất Lean với hệ thống sản xuất thông thường Với những đòi hỏi ngày càng cao và ngày càng đa dạng của khách hàng hiện nay, các doanh nghiệp luôn tìm ra cái mới, cải tiến sản phẩm, quy trình sản xuất để -5- thích nghi với những đòi hỏi đó. Do vậy, các doanh nghiệp khi chuyển đổi sang mô hình sản xuất Lean sẽ có được khả năng đáp ứng khách hàng cao hơn do những thuận lợi mà hệ thống sản xuất Lean mang lại (xem bảng 1.1: So sánh lợi ích sản xuất Lean với sản xuất thông thường.
Hệ thống sản xuất thông thường Hệ thống sản xuất Lean Chu kỳ sản xuất dài do mức tồn cao.