Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại VNPT Hải Phòng. Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của VNPT Hải Phòng. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về doanh nghiệp. Khái niệm về doanh nghiệp. Có khá nhiều cách hiểu về doanh nghiệp theo các cách tiếp cận khác nhau.Francois Peroux thì “doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau do nhân viên của doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”. Theo quan điểm khác về phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra của cải.
Nó sinh ra và phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.” Trên thế giới, doanh nghiệp là các loại hình về công ty, ở đó có các quy định về tổ chức cũng như quy định về hoạt động của các loại hình công ty. Tại các nước tư bản, “công ty là một tổ chức kinh tế được thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty. Công ty được thành lập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn và được thừa nhận là pháp nhân ở hầu hết các nước”. Trên các quan điểm và khía cạnh khác nhau thì có thể xem “doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hẹp là công ty, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh”.
Tại Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp thì“doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Phân loại doanh nghiệp. Tùy từng mục đích khác nhau mà doanh nghiệp được phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Thông dụng nhất, thường thấy là phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí loại hình pháp lý của doanh nghiệp.
Cụ thể: Doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp Nhà nước là một doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ và được thành lập, tổ chức, quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước. Doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp đó.
Doanh nghiệp hợp danh. Doanh nghiệp hợp danh là một doanh nghiệp có ít nhất 02 thành viên (gọi là thành viên hợp danh) là chủ sở hữu chung của doanh nghiệp đó và cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của doanh nghiệp. Ngoài các thành viên hợp danh, doanh nghiệp có thể có thêm thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn họ đã góp vào doanh nghiệp Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn.
- Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên: Là một doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. - Trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên: là một doanh nghiệp với thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng thành viên không vượt quá 50. Thành viên sẽ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn họ đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Phần vốn góp của thành viên chỉ được quyền chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
-6- Doanh nghiệp cổ phần. Doanh nghiệp cổ phần là một doanh nghiệp có: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau và được gọi là cổ phần. - Cổ đông của doanh nghiệp có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng cổ đông tối thiểu là 03 nhưng không hạn chế số lượng tối đa. - Cổ đông của doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn họ đã góp vào doanh nghiệp.
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác chỉ trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có các đặc điểm sau: Thứ nhất là doanh nghiệp thường hoạt động kinh doanh hoặc dịch vụ. “Phần lớn doanh nghiệp được thành lập nhằm mục đích kinh doanh, mua bán hàng hóa tạo lợi nhuận hoặc cung ứng dịch vụ hoặc cả hai để phục vụ lợi ích người tiêu dùng.
Tuy nhiên, cũng có một số doanh nghiệp đặc thù, thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Các doanh nghiệp này đa phần là doanh nghiệp công ích hoặc doanh nghiệp xã hội, do Nhà nước thành lập và chủ sở hữu, thực hiện các hoạt động vì lợi ích của cộng đồng và xã hội. Trong đời sống kinh tế xã hội, bất kỳ thực thể nào cũng có thể làm nảy sinh các hoạt động sản xuất kinh doanh hay cung ứng dịch vụ. Ví dụ: một hộ nông dân, khi thu hoạch mùa vụ, có thể bán thóc gạo của mình để kiếm thêm thu nhập sau khi đã đủ gạo để ăn, họ thực hiện hoạt động này một lần trong trong năm hoặc vài năm một lần một cách rất tự phát.
Các hoạt động lẻ tẻ và mang tính cá biệt như vậy không phải đặc trưng của doanh nghiệp, vốn có hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ rất thường xuyên, chuyên nghiệp và liên tục. Một doanh nghiệp phải có đầy đủ hoạt động kinh doanh mà hoạt động đó phải được thực hiện trong một quá trình lâu dài. Theo các quy định hiện hành của Việt Nam, “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường -7- nhằm mục đích sinh lợi.” Như vậy, chỉ khi một tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng một cách chuyên nghiệp, liên tục, thường xuyên, lâu dài thì tổ chức đó mới có thể được coi là một doanh nghiệp.” Thứ hai, các doanh nghiệp có tính tổ chức. “Đa phần các doanh nghiệp đều là những thực thể có tính tổ chức.
Tính tổ chức được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp được thành lập luôn có cơ cấu nhân sự, có bộ máy tổ chức điều hành, có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài sản riêng để quản lý. Chính vì vậy, pháp luật nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, quy định về tư cách “pháp nhân” của hầu hết các loại hình doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp tư nhân vốn gắn liền với một cá nhân kinh doanh”. Thứ ba, Doanh nghiệp có tính hợp pháp. “Tại rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp muốn được thừa nhận là một pháp nhân, tham gia hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình thì đều phải đăng ký một cách hợp pháp.
Pháp luật nhiều nơi quy định về trình tự, thủ tục đăng ký hoặc công nhận một tổ chức là doanh nghiệp. Việc đăng ký thực hiện thông qua thủ tục hai chiều, tức là chủ sở hữu khi muốn thành lập doanh nghiệp phải nộp hồ sơ xin cấp phép, và cơ quan quản lý nhà nước, khi chấp thuận bộ hồ sơ ấy thì ban hành giấy phép thành lập doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp được cấp phép, nó đương nhiên được thừa nhận ra đời, được pháp luật bảo hộ và phải chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp lý có liên quan. Có thể nói, giấy phép hay chấp thuận của cơ quan nhà nước về việc thành lập doanh nghiệp chính là giấy khai sinh của doanh nghiệp vậy.
Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh nghiệp xin phép đăng ký và được cấp phép thành lập và hoạt động, để nhà nước ghi nhận sự hình thành hay tồn tại của doanh nghiệp, mà còn thể hiện ở việc, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, doanh nghiệp cũng là một thực thể độc lập và phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình, bằng tài sản riêng của mình. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể”. Đặc điểm hoạt động kinh doanh viễn thông: -8- - Kinh doanh viễn thông phải do một chủ thể thực hiện được gọi là chủ thể kinh doanh. Chủ thể kinh doanh có thể là doanh nghiệp Nhà nước (Tập đoàn BCVT Việt Nam; Tổng công ty viễn thông quân đội,… ); doanh nghiệp cổ phần (Công ty cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn) và các loại hình doanh nghiệp khác.
- Kinh doanh viễn thông phải gắn với thị trường. Thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng, không có thị trường thì không có khái niệm kinh doanh. Thị trường kinh doanh viễn thông phải được hiểu theo nghĩa rộng là một hệ thống bao gồm các khách hàng sử dụng, các nhà cung cấp, mối quan hệ cung cầu giữa họ tác động qua lại để xác định giá cả, số lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ viễn thông. - Kinh doanh viễn thông phải gắn với vận động của đồng vốn.
Các doanh nghiệp viễn thông không chỉ có vốn mà còn cần phải biết cách thực hiện vận động đồng vốn đó không ngừng. Nếu gạt bỏ nguồn gốc bóc lột trong công thức tư bản của C.Mác, có thể xem công thức này là công thức kinh doanh: T-H- SX…-T’, các doanh nghiệp viễn thông dùng vốn của mình dưới hình thức tiền tệ mua tư liệu sản xuất để sản xuất (truyền đưa tin tức) theo yêu cầu của khách hàng nhằm thu được số lượng tiền tệ lớn hơn.