MỞ ĐẦU 1. Tính ấp thiết ủ đề tài Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng tại Việt Nam, xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế, nhiều làn sóng kinh doanh mới đã và đang ùa vào nƣớc ta. Nhu cầu tồn tại và phát triển trong môi trƣờng cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp minh bạch hóa cơ chế quản lý kinh doanh. Chính vì lẽ đó, các công ty cổ phần ra đời và ngày càng thể hiện bƣớc đi đúng đắn của mình khi đƣa cổ phiếu của công ty đến với công chúng, gắn liền lợi ích của công ty với cổ đông.
Việc gia nhập Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO và nhiều thủ tục hành chính đƣợc cải thiện đã làm cho số lƣợng nhà đầu tƣ tăng lên không ngừng. Một trong những yếu tố quan trọng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tƣ là chỉ tiêu lợi nhuận, qua đó đánh giá triển vọng tăng trƣởng của công ty. Các nhà đầu tƣ thƣờng có xu hƣớng đầu tƣ vào các công ty có hiệu quả kinh tế và triển vọng tăng trƣởng cao. Để có thể giành đƣợc sự quan tâm của nhà đầu tƣ, ngoài những điều kiện thuận lợi nhƣ quy mô của công ty, lĩnh vực kinh doanh “hot”, có nhiều dự án hấp dẫn,., chỉ tiêu lợi nhuận cũng là một chỉ tiêu quan trọng mà phần lớn các nhà đầu tƣ quan tâm khi để mắt tới công ty.
Chính vì vậy, các công ty, đặc biệt là các công ty lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng thƣờng có xu hƣớng thổi phồng kết quả kinh doanh trong những giai đoạn quan trọng để tạo đƣợc sức “hấp dẫn” đối với các nhà đầu tƣ. Đó cũng chính là lý do khiến các nhà quản trị công ty luôn tìm mọi cách có thể để chuyển dịch lợi nhuận của các kỳ sau hoặc lợi nhuận của kỳ trƣớc về kỳ chuẩn bị phát hành cổ phiếu lần đầu nhờ vào tính linh hoạt của chuẩn mực và chế độ kế toán nhằm thu hút các nhà đầu tƣ và chào bán thành công. Do đó, khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng trên thị trƣờng chứng khoán, khả năng các công ty cổ phần điều chỉnh tăng lợi nhuận là rất cao. Điều đó khiến các nhà đầu tƣ luôn đặt ra hỏi liệu chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ 2 phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng có đƣợc báo cáo trung thực hay không? Nhận diện đƣợc hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị thông qua các mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận nhằm giúp các đối tƣợng sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu tƣ có đƣợc nguồn thông tin chính xác để đƣa ra các quyết định đắn là vấn đề có ý nghĩa rất lớn.
Một số đề tài nghiên cứu về động cơ quản trị lợi nhuận khi tăng vốn cổ phần nhƣ nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thùy Dƣơng [4] hay khi IPO của tác giả Phan Việt Hùng [5] đã cung cấp những bằng chứng bƣớc đầu về hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty khi huy động vốn cổ phần. Tuy nhiên chƣa có nghiên cứu quản trị lợi nhuận dựa vào dữ liệu của nhiều công ty khi IPO. Từ đó việc thực hiện đề tài “Quản trị lợi nhuận ủ á ông ty phát hành ổ phiếu lần đầu r ông húng tại Việt N m” sẽ cung cấp bằng chứng đầy đủ hơn để kiểm chứng hành vi cơ hội của nhà quản trị ở các công ty IPO. Mụ tiêu nghiên ứu - Mục tiêu của nghiên cứu này là nhận diện hành động quản trị lợi nhuận của nhà quản trị khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO).
- Câu hỏi nghiên cứu: có hay không các nhà quản trị ở các công ty IPO thực hiện điều chỉnh lợi nhuận tăng lên ở kỳ báo cáo gần nhất thời điểm phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng? 3. Đối t ợng và phạm vi nghiên ứu * Đố ợ Đối tƣợng nghiên cứu là hành động quản trị nhuận của nhà quản trị công ty khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. *P ạ v - Về thời gian: đánh giá quản trị lợi nhuận kế toán của các công ty IPO ở năm liền trƣớc năm phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng trong năm 2015. - Về không gian: phạm vi nghiên cứu là các công ty IPO, dữ liệu đƣợc thu thập thông qua website của Sở GDCK TP Hồ Chí Minh và Sở GDCK Hà Nội.
Ph ơng pháp nghiên ứu Luận văn vận dụng cách tiếp cận chứng thực, sử dụng mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận Modified Jones để kiểm định giả thuyết. Số liệu đƣợc thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty đấu giá cổ phần trên Sở GDCK TP Hồ Chí Minh (Hose) và Sở GDCK Hà Nội (HNX) trong năm chuẩn bị phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và năm liền trƣớc. Phân tích kết quả đƣợc thực hiện thông qua việc vận dụng các công cụ thống kê toán (kiểm định dấu Sign test). Thông tin, số liệu thu thập là nguồn thông tin có liên quan đến hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh, số liệu về d ng tiền từ hoạt động kinh doanh và các số liệu báo cáo tài chính có liên quan khác.
Số liệu sau khi thu thập đƣợc xử lý thông qua mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận Modified Jones để kiểm định giả thuyết dƣới sự h trợ của Excel và SPSS 20. Ý nghĩ ho họ và thự tiễn ủ đề tài -Về khoa học: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng về hành động quản trị lợi nhuận của các công ty IPO ở Việt Nam, qua đó góp phần làm phong phú thêm chủ đề nghiên cứu này bằng việc cung cấp kết quả nghiên cứu trong một nƣớc đang phát triển và chuyển đổi về kinh tế thị trƣờng. -Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài cung cấp thông tin cho nhà đầu tƣ trong việc đƣa ra quyết định khi dựa vào thông tin lợi nhuận của doanh nghiệp; cung cấp bằng chứng giúp cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc tăng cƣờng theo dõi, giám sát chất lƣợng lợi nhuận của các công ty IPO. Cấu trú ủ luận văn L ậ vă ồ 3 : Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận.
Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý. Tổng quan tài liệu nghiên ứu Ở các nƣớc phát triển, có nhiều lý do dẫn đến hành động quản trị lợi nhuận nhƣ: chế độ trả công dành cho ngƣời quản trị theo mức lợi nhuận nào đó, tránh vi phạm hợp đồng đi vay, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp,.Ở nƣớc ta, lý do thúc đẩy hành động quản trị lợi nhuận có thể là tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, tạo hình ảnh tốt về công ty để thu hút đầu tƣ từ bên ngoài,. Do đó, các nhà quản trị sẽ thực hiện hành động quản trị lợi nhuận, để điều chỉnh lợi nhuận tăng giảm theo ý muốn chủ quan của họ khi cần thiết.
Chính vì vậy, việc nhận diện hành động quản trị lợi nhuận thông qua vận dụng chính sách kế toán của các nhà quản trị nhằm giúp các đối tƣợng sử dụng thông tin đánh giá khách quan hơn kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó đƣa ra quyết định đúng đắn. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc điều chỉnh lợi nhuận và các giả thuyết đã đƣợc chứng minh bằng nhiều mô hình nghiên cứu kinh nghiệm nhƣ: The Healy Model [20], The DeAngelo Model [15], The Jones Model [21], Modified Jones Model [17], Industry Model của Dechow and Sloan [16], The Friedlan [19] ,… Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu lý thuyết về quản trị lợi nhuận nhƣ các nghiên cứu của Nguyễn Công Phƣơng: “Kế toán theo cơ sở dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp” [7], “Các mô hình quản trị lợi nhuận ở các nƣớc phát triển có phù hợp với bối cảnh Việt Nam: “Các mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận ở các nƣớc phát triển có phù hợp với bối cảnh Việt Nam? Phân tích lý thuyết” [9], “Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận” [8]. Các nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở lý thuyết hữu ích cho các nghiên cứu về việc vận dụng các chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của nhà quản trị. Đồng thời tác giả cũng tổng hợp các mô hình quản trị lợi nhuận đã đƣợc kiểm chứng trên thế giới, phân tích ƣu, nhƣợc điểm của từng mô hình nhằm cải tiến phƣơng pháp nhận diện điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị.
5 Nghiên cứu của Đƣờng Nguyễn Hƣng [6] về “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố trên BCTC” đã đƣa ra nội dung rõ ràng về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị thông qua việc việc dụng chính sách kế toán cũng nhƣ mục đích của việc điều chỉnh lợi nhuận. Tuy nhiên bài viết này chỉ giới hạn ở nghiên cứu lý thuyết chứ chƣa phải là nghiên cứu thực nghiệm do đó chƣa đƣa ra bằng chứng về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị. Bên cạnh đó cũng đã có một số luận văn thạc sĩ tìm hiểu về quản trị lợi nhuận nhƣ: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Thảo [11] về đề tài “ Ảnh hƣởng của sự thay đổi tỷ suất thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc điều chỉnh lợi nhuận: trƣờng hợp các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” dựa vào bối cảnh thay đổi thuế suất thuế TNDN năm 2008 (từ 28% trƣớc năm 2008 giảm xuống c n 25% năm 2009). Tác giả đã sử dụng mô hình Friedlan [19] để phân tích và kết luận có 60% công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận trong năm 2008 để tiết kiệm thuế thu nhập doanh nghiệp, 40 % công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận.
Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn c n hạn chế là sử dụng mô hình Friedlan [19], mô hình c n nhiều hạn chế trong việc d tìm dấu hiệu quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Vân [14] về đề tài “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu tiên niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” với thời gian nghiên cứu là năm 2008 đến năm 2010. Tác giả sử dụng mô hình DeAnglo và Friedlan để phân tích và đã đƣa ra kết luận phần lớn các công ty niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán.