Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu Chương 2: Lý thuyết về tác động của giới tính lãnh đạo đến rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận, khuyến nghị và định hướng nghiên cứu tiếp theo 15 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA GIỚI TÍNH LÃNH ĐẠO ĐẾN RỦI RO SỤP ĐỔ GIÁ CỔ PHIẾU 2. Lý thuyết về rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu 2. Khái niệm rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu Rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu đề cập đến khả năng giá cổ phiếu của một công ty hoặc toàn bộ TTCK giảm mạnh và đột ngột trong một khoảng thời gian ngắn. Đây là một rủi ro tài chính quan trọng mà nhà đầu tư cần cân nhắc khi tham gia vào TTCK.
Có một sự thống nhất về định nghĩa rủi ro SĐGCP của các nhóm nghiên cứu Chen và cộng sự (2001), Kim và cộng sự (2014), Callen và Fang (2015a), rủi ro SĐGCP hay rủi ro sụt giảm giá cổ phiếu có liên quan đến độ lệch trái trong phân phối lợi nhuận cho từng cổ phiếu. Nói cách khác, rủi ro sụt giảm giá cổ phiếu còn được xác định là rủi ro về khả năng sinh lời của giá cổ phiếu đang trên đà suy giảm mạnh, thể hiện qua mức độ lệch trái của phân phối xác suất (Chang và cộng sự, 2017). Các yếu tố có thể góp phần vào rủi ro này bao gồm các yếu tố vĩ mô như suy thoái kinh tế, lạm phát cao, hoặc thay đổi chính sách tiền tệ đột ngột; các yếu tố công ty như báo cáo tài chính không hiệu quả, sự cố pháp lý; hay các yếu tố như tâm lý thị trường, sự mất cung đối cung và cầu, sự đứt gãy trong hệ thống giao dịch. Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới, các quốc gia không ít lần chứng kiến những sự kiện và cú sốc lớn làm sụt giảm giá cổ phiếu và khiến thị trường chứng khoán quốc tế chao đảo.
Điển hình có thể kể đến khủng hoảng Suy thoái Lớn (Great Depression) 1929-1939 khi chỉ số Dow Jones Industrial Average giảm khoảng 90% so với đỉnh do sự phát triển quá mức của thị trường chứng khoán và tín dụng, cùng với chính sách tiền tệ và tài khóa sai lầm (Friedman, 2008). Sự kiện khủng hoảng dầu (1973-1974) khiến các chỉ số chứng khoán lớn như S&P 500 và DJIA giảm hơn 40%; nguyên nhân là do khủng hoảng dầu mỏ do các nước OPEC tăng giá dầu mạnh (Hamilton, 1983) hay cuộc khủng hoảng “dot-com” (2000-2001) khiến chỉ số NASDAQ giảm hơn 75% so với đỉnh do “bong bóng tài sản” của các công ty công nghệ Internet và công nghệ mới đồng loạt đổ vỡ (Shiller, 2015). "Bong bóng tài sản" (Asset Bubble) là tình trạng giá cổ phiếu tăng lên nhanh chóng và không tương xứng với giá trị thực của công ty, do sự đầu cơ và tâm lý đám đông và khi 16 bong bóng vỡ, giá cổ phiếu sẽ sụt giảm mạnh (Brunnermeier, 2008). Khủng hoảng đêm Thứ Hai Đen (Black Monday) năm 1987 liên quan đến chỉ số Dow Jones Industrial Average giảm 22,6% trong một ngày do sự mất niềm tin của nhà đầu tư, cùng với những yếu tố kỹ thuật như giao dịch tự động (Carlson, 2007).
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998 chứng kiến các chỉ số chứng khoán tại nhiều nước Đông Nam Á và Hàn Quốc kéo nhau giảm hơn 50% do tình trạng nợ nước ngoài và tỷ giá hối đoái không ổn định (Radelet, 1998). Đặc biệt, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 hay còn có tên gọi khác là "Cuộc suy thoái vĩ mô" (The Great Recession) khiến các chỉ số chứng khoán chính trên thế giới như S&P 500, DJIA, NASDAQ giảm mạnh hơn 50% so với đỉnh do vỡ bong bóng bất động sản và thị trường cho vay tiêu dùng quá mức ở Mỹ. Tất cả các sự kiện trên đều gây ra hậu quả rất lớn đến sự phát triển của thị trường chứng khoán thế giới nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung, dẫn đến hàng loạt hệ lụy về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, sự phân bố cơ cấu thu nhập và khoảng cách giàu nghèo. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro sụp đổ giá cổ phiếu 2.
Lý thuyết người đại diện Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, lý giải việc khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu (own) với việc quản lý (manage) sử dụng nguồn lực dẫn đến khả năng người quản lý có thể hành động để tối ưu hóa lợi ích riêng của họ nhiều hơn so với lợi ích của chủ sở hữu, và được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976. Jensen và Meckling (1976) cho rằng lý thuyết đại diện hay còn gọi là lý thuyết ủy quyền (Agency theory) tập trung vào mối quan hệ giữa bên ủy quyền (Principals) với bên được ủy quyền hay còn có tên gọi khác là bên đại diện (Agents), theo đó bên đại diện sẽ có một số quyền hạn nhất định dựa trên sự ủy quyền của bên ủy quyền. Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột lợi ích sẽ phát sinh khi có sự bất cân xứng thông tin (trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin – các chủ thể giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau) giữa bên ủy quyền và bên đại diện. 17 SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ MÔ TẢ LÝ THUYẾT NGƯỜI ĐẠI DIỆN Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp Trong công ty cổ phần, mối quan hệ giữa bên ủy quyền (ủy thác) và bên đại diện (thừa hành) bao gồm mối quan hệ giữa chủ sở hữu - cổ đông (owners) và nhà quản lý (managers) thông qua việc cổ đông ủy quyền điều hành DN cho nhà quản lý, và mối quan hệ giữa chủ nợ (creditors) và cổ đông công ty (owners) thông qua việc chủ nợ ủy quyền cho cổ đông sử dụng vốn do chủ nợ cấp tín dụng.
Trong mối quan hệ giữa cổ đông và nhà quản lý, thông thường sự bất cân xứng thông tin sẽ xảy ra theo chiều hướng nhà quản lý sẽ biết nhiều thông tin trọng yếu hơn cổ đông như mục tiêu lợi nhuận, rủi ro hiện có và tiềm tàng của công ty. Theo đó, thay vì tối đa hóa giá trị DN - tức là việc tối đa hóa lợi ích của cổ đông thì nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định tối đa hóa lợi ích cá nhân như gian lận báo cáo tài chính, đầu tư thiếu khách quan với mục tiêu che giấu thông tin xấu và bất lợi về phía cổ đông công ty. Trong mối quan hệ giữa chủ nợ và cổ đông công ty, thông thường sự bất cân xứng thông tin xảy ra theo chiều hướng cổ đông công ty sẽ biết nhiều thông tin quan trọng hơn chủ nợ, chẳng hạn thông tin về tình hình HĐKD của công ty, thông tin về khả năng trả nợ vay, dòng tiền lưu chuyển của công ty. Từ đó, cổ đông thường sẽ có xu hướng chỉ cung cấp các thông tin có lợi đến bên cung và khách hàng thay vì thông báo công khai toàn bộ thông tin thực tế của DN.
18 Theo lý thuyết về người đại diện, người quản lý thường có xu hướng che giấu các thông tin tiêu cực liên quan tới hoạt động kinh doanh của DN trong thời gian dài, nhằm mục đích củng cố địa vị quản lý (Ball, 2009) hoặc để gia tăng giá trị các quyền lợi do họ nắm giữ và thực hiện hành vi trục lợi trong ngắn hạn (Kim và cộng sự, 2014). Điều này dẫn đến hành vi giao dịch cổ phiếu sai lệch (Hutton và cộng sự, 2009), khi NĐT dễ dàng hướng định giá quá cao giá trị của cổ phiếu (Wen và cộng sự, 2019). Khi đó, rủi ro sụt giảm mạnh của giá cổ phiếu sẽ xảy ra khi các thông tin xấu bắt đầu rò rỉ ra thị trường cùng lúc (Habib và cộng sự, 2018), dẫn tới hành vi bán khống và bán tháo cổ phiếu của hàng loạt các NĐT bị thiệt về thông tin. Lý thuyết hành vi nhà đầu tư Lý thuyết về “Tài chính hành vi” được hình thành và phát triển bởi hai nhà tâm lý học người Mỹ là Daniel Kahneman và Amos Tversky.
Theo lý thuyết này, hành vi của NĐT được tiếp cận dựa trên ba yếu tố: kinh nghiệm, sự lệch lạc về hành vi và hiệu ứng tâm lý đám đông. NĐT thường dựa vào kinh nghiệm sẵn có của bản thân cũng như những người đi trước để đưa ra cách giải quyết vấn đề. Nghiên cứu của Kahneman và Tversky (1982) đã đưa ra 3 phương pháp của việc ra quyết định dựa trên kinh nghiệm của NĐT. Thứ nhất là phương pháp dựa vào tình huống mẫu điển hình, khi NĐT đưa ra đánh giá về hoàn cảnh của mình cũng như tìm hướng giải quyết thông qua các trường hợp tương tự đã từng xảy ra trước đó trong lịch sử.
Thứ hai là phương pháp dựa vào tính sẵn có, NĐT dựa vào việc thu thập những thông tin sẵn có trên thị trường để đưa ra các quyết định đầu tư của mình. Thứ ba là phương pháp dựa vào các thông tin tham chiếu để đưa ra điều chỉnh. NĐT sử dụng phương pháp này sẽ dựa vào một số nguồn thông tin tham chiếu liên quan đến tài chính - kinh tế nào đó sẵn có như chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng. để làm cơ sở và căn cứ cho sự điều chỉnh cho phù hợp với các thông tin của tình huống hiện tại.
Như vậy, dựa vào kinh nghiệm, NĐT có thể dự đoán và đánh giá khả năng xảy ra của những sự kiện trong tương lai một cách nhanh chóng và dễ dàng. Trong nhiều trường hợp, các điều kiện ngoại cảnh biến động thường xuyên và khó đoán định, việc dựa vào kinh nghiệm 19 hay tham chiếu tài liệu và thông tin trước đó không còn khả thi, khi đó, dựa trên các quy tắc vận hành của nền kinh tế sẽ được các NĐT ưu tiên sử dụng sẽ đưa ra quyết định, đặc biệt là các quy tắc vừa đơn giản, dễ nhớ lại dễ áp dụng. Chính điều này làm cho các quyết định của NĐT đưa ra thường không mang lại kết quả như mong đợi. Hơn nữa, các nghiên cứu trong lý thuyết “Tài chính hành vi” chỉ ra rằng phần lớn sự lệch lạc về hành vi của NĐT là do 4 nguyên nhân chính.
Một là, sự quá tự tin của NĐT trong quá trình xây dựng danh mục đầu tư chứng khoán. Tự tin thái quá vào khả năng dự đoán thị trường cũng như khối lượng thông tin liên quan mà bản thân sở hữu thường khiến NĐT coi nhẹ việc đa dạng hóa danh mục và lựa chọn mã chứng khoán thích hợp.