Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG VÀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG I. Quan niệm và các dấu hiệu đặc trưng của tham nhũng 1.1 Quan niệm về tham nhũng Tham nhũng là khái niệm được sử dụng rất quen thuộc từ lâu nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt, “tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của”3. Trong khi đó, theo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) thì tham nhũng được định nghĩa đơn giản, trong một phạm vi hẹp, đó là "sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng” v.v… Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau như vậy nhưng nhìn chung, có hai loại khái niệm phổ biến nhất về tham nhũng như sau: - Khái niệm tham nhũng được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm mọi hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi.
Chủ thể của hành vi tham nhũng có thể là cán bộ, công chức, viên chức hoặc người khác thuộc khu vực nhà nước (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội…) mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức; thậm chí, chủ thể của hành vi tham nhũng cũng có thể là người thuộc khu vực tư nhân. - Khái niệm tham nhũng theo nghĩa hẹp và đã được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng), thì "tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi"4. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu vực nhà nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước). Việc giới hạn này là nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng xảy ra phổ biến nhất, bảo đảm tính trọng tâm, trọng điểm, góp phần nâng cao hiệu quả trong đấu tranh chống tham nhũng.
Mặt khác, việc giới hạn như vậy cũng thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu…, là các biện pháp chỉ áp dụng đối với với cán bộ, công chức thuộc khu vực nhà nước. 3 Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn Ngữ Học – NXB Đà Nẵng 2004. 4 Khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống tham nhũng 16 Đối với khu vực ngoài nhà nước, khi có vụ việc xảy ra thì pháp luật cũng đã có những sự điều chỉnh nhất định… Bên cạnh đó, cũng có trường hợp người có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài nhà nước câu kết, móc nối với những người thoái hoá, biến chất trong khu vực nhà nước hoặc lợi dụng ảnh hưởng của những người này để trục lợi; nhưng trong những trường hợp đó, họ đã trở thành đồng phạm khi những người có hành vi tham nhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xác định rõ ràng và có quan niệm đúng đắn về tham nhũng là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm tính hiệu quả trong đấu tranh phòng và chống lại tệ nạn này.
Trong điều kiện cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta còn nhiều cam go, phức tạp thì sự thống nhất trong quan niệm về tham nhũng là rất cần thiết. Khái niệm về tham nhũng theo quy định hiện hành của Pháp luật Việt Nam là tương đối phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cũng như phù hợp với tình hình và đặc điểm của cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta trong giai đoạn trước mắt. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu đan xen, nhất là trong quá trình sản xuất kinh doanh, các quan niệm về “khu vực công” và “khu vực tư” càng ngày trở nên khó phân biệt. Thêm vào đó, việc chuyển giao các công việc trước kia thuộc về nhà nước cho các khu vực phi nhà nước đã khiến cho quan niệm về công tư lại càng trở nên khó xác định.
Xét cho cùng, tham nhũng là sử dụng quyền lực “công” để phục vụ lợi ích “tư” nhưng khái niệm “công” cần được mở rộng hơn trước. Nếu như trước kia “của công” đồng nghĩa với “Nhà nước” thì hiện nay nó gần đồng nghĩa với khái niệm “của chung” (tức là không chỉ nhà nước mà ngay trong các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay bất cứ một nhóm người nào đó). Mặt khác, nhận thức được tác hại của tham nhũng trong "khu vực tư", ngày càng nhiều ý kiến cũng đồng tình với việc Chính phủ cần mở rộng việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng sang khu vực này. Qua khảo sát cho thấy khi được hỏi thì 43,14% cán bộ, công chức, 38,74% hưu trí, 46,42% học sinh, sinh viên, nhóm 34,51% các nghề nghiệp khác cho rằng cần phải đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong cả khu vực ngoài nhà nước (các doanh nghiệp dân doanh, các tổ chức xã hội)5.
Chính vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu đưa ra những cơ chế phù hợp với yêu cầu mới của 5 Kết quả điều tra xã hội học do Viện Khoa học Thanh tra thực hiện trong khuôn khổ đề tài "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng cho đến năm 2020" 17 cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Có thể hiện nay, vấn đề này còn chưa gay gắt nhưng chắc chắn trong một vài năm tới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vấn đề chống tham nhũng trong các khu vực ngoài nhà nước sẽ trở nên bức thiết. Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam đã ký kết và đang trong quá trình phê chuẩn cũng nhấn mạnh vấn đề này.2 Các dấu hiệu đặc trưng của tham nhũng Như đã trình bày, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về tham nhũng. Tương ứng với mỗi loại khái niệm về tham nhũng là các đặc trưng khác nhau về tham nhũng.
Tuy các khái niệm có phạm vi và mức độ khác nhau, nhưng về cơ bản, các khái niệm này đều thống nhất với nhau về ba đặc trưng (yếu tố) không thể thiếu được của tham nhũng, đó là: vị trí công tác, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; sự lợi dụng vị trí đó; có mục đích vụ lợi (cho mình hoặc cho người khác). Phân tích khái niệm “tham nhũng” theo quy định của pháp luật Việt Nam, có thể thấy tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: - Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn. Đặc điểm của tham nhũng là người có hành vi này phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (khoản 3 Điều 1 của Luật phòng, chống tham nhũng).
Nhìn chung, những đối tượng này có những đặc điểm đặc thù so với các nhóm đối tượng khác, như họ thường là những người có quá trình công tác và cống hiến nên có nhiều kinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau; là những người có quan hệ rộng và có uy tín xã hội nhất định và thậm chí có thế mạnh về kinh tế. Những đặc điểm này của chủ thể hành vi tham nhũng chính là yếu tố gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vi tham nhũng. - Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng.
Trong hành vi tham nhũng thì người thực hiện hành vi tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi 18 ích cho mình hoặc cho gia đình mình hoặc cho người khác. Đây cũng là một yếu tố rất cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạn đã có hành vi vi phạm với mục đích vụ lợi nhưng không dựa trên sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì cũng không phải hành vi tham nhũng mà có thể phạm tội khác (chẳng hạn như trộm cắp. - Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Hành vi tham nhũng là hành vi chủ ý, có mục đích.
Mục đích của hành vi tham nhũng phải là mục đích vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không phải là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, chủ thể của hành vi tham nhũng không nhất thiết phải đã đạt được lợi ích mà lợi ích này có thể sẽ có trong tương lai.
Liên quan đến yếu tố vụ lợi, một trong những điểm yếu của pháp luật Việt Nam hiện nay là trong đa số các trường hợp, việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, trên cơ sở đó quyết định hình phạt chỉ nhằm vào những lợi ích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được. Điều đó chỉ phù hợp với nền kinh tế hiện vật trước đây. Trong cơ chế thị trường, lợi ích vật chất chạy rất “vòng vèo”, vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào những tài sản phát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được thì sẽ là không đầy đủ (trong các tội danh quy định trong Bộ luật hình sự thì việc xác định giá trị tài sản tham nhũng chủ yếu được tính ra tiền để xác định mức độ nguy hiểm và quyết định hình phạt).